Hành trình đi tìm công lý thông qua con đường Tòa án thường bắt đầu bằng việc nộp đơn khởi kiện. Tuy nhiên, rất nhiều cá nhân, doanh nghiệp sau khi chuẩn bị hồ sơ và nộp lên Tòa án lại nhận được thông báo trả lại đơn. Việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện không chỉ làm mất thời gian, công sức mà còn khiến nhiều người hoang mang, lo lắng rằng quyền lợi hợp pháp của mình sẽ không được giải quyết.Theo quy định hiện hành, các trường hợp trả lại đơn khởi kiện chủ yếu được quy định tại Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 , đồng thời liên quan đến các quy định về quyền khởi kiện, nội dung đơn khởi kiện, sửa đổi, bổ sung đơn và nộp tiền tạm ứng án phí. Vậy Tòa án trả lại đơn khởi kiện trong những trường hợp nào? Khi nhận thông báo trả lại đơn, người khởi kiện cần làm gì để không mất quyền lợi?
Dưới góc nhìn chuyên môn, đội ngũ Luật sư tại Nhung & Partners sẽ phân tích chi tiết dựa trên các quy định của Pháp luật để giúp bạn có định hướng xử lý chính xác nhất.
1. Tòa án trả lại đơn khởi kiện trong những trường hợp nào?
Quá trình tiếp nhận và xử lý đơn khởi kiện được pháp luật quy định rất nghiêm ngặt. Thẩm phán không được tùy tiện trả lại đơn khởi kiện mà phải căn cứ vào các trường hợp do pháp luật quy định. Theo khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây:
1.1. Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự
Người khởi kiện phải là người có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc thuộc trường hợp pháp luật cho phép khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác. Nếu người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo Điều 186, Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 hoặc không đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì Tòa án có thể trả lại đơn.
Vì vậy, trước khi khởi kiện cần xác định đúng ai là người có quyền khởi kiện và tư cách tố tụng của các bên.
Tình huống hư cấu: Chị A thấy hàng xóm của mình là anh B bị công ty C quỵt nợ. Vì bức xúc thay cho anh B, chị A tự mình làm đơn khởi kiện công ty C nhằm đòi lại quyền lợi cho a B. Trong trường hợp này, chị A không phải là người bị xâm phạm trực tiếp quyền lợi tài sản, cũng không được anh B ủy quyền nên chị không có quyền khởi kiện. Tòa án trả lại đơn khởi kiện của chị A là hoàn toàn đúng pháp luật.
1.2. Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật
Một số tranh chấp phải đáp ứng điều kiện nhất định trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu tại thời điểm nộp đơn, người khởi kiện chưa đáp ứng điều kiện này thì đơn có thể bị trả lại.
Tuy nhiên, không phải mọi tranh chấp đều phải thực hiện cùng một thủ tục tiền tố tụng. Người khởi kiện cần căn cứ vào từng loại tranh chấp và pháp luật chuyên ngành để xác định có phải hòa giải hoặc thực hiện thủ tục khác trước khi khởi kiện hay không.
Tình huống hư cấu: Ông A và ông B tranh chấp quyền sử dụng đất. Nếu chưa thực hiện hòa giải tại UBND cấp xã theo quy định mà ông A khởi kiện trực tiếp tại Tòa án thì có thể bị xác định chưa đủ điều kiện khởi kiện .
1.3. Vụ việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Tòa án có thể trả lại đơn nếu vụ việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quy định này nhằm tránh việc một tranh chấp được giải quyết nhiều lần.
Tuy nhiên, các trường hợp người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại theo quy định tại khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 như đối với một số yêu cầu về ly hôn, thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng, người quản lý tài sản, người quản lý di sản, người giám hộ hoặc một số vụ án đòi tài sản mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và pháp luật cho phép khởi kiện lại.
Vì vậy, khi người khởi kiện bị trả lại đơn vì lý do vụ việc đã được giải quyết, cần kiểm tra nội dung bản án, quyết định trước đó và căn cứ pháp luật về quyền khởi kiện lại để tránh bỏ mất quyền lợi của mình.
Tình huống hư cấu: Ông A từng khởi kiện ông B đòi tài sản nhưng yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Nếu pháp luật cho phép khởi kiện lại, ông A vẫn có quyền nộp đơn khởi kiện mới khi có đủ điều kiện.
1.4. Không nộp tiền tạm ứng án phí đúng thời hạn
Nếu thuộc trường hợp phải nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải thực hiện theo thông báo của Tòa án. Theo khoản 2 Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và giao biên lai cho Tòa án trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được giấy báo .
Nếu hết thời hạn mà không thực hiện, Tòa án có thể trả lại đơn, trừ trường hợp thuộc diện được miễn, không phải nộp hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng theo quy định.
1.5. Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Tòa án trả lại đơn nếu vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tuy nhiên, cần phân biệt với trường hợp vụ án thuộc thẩm quyền của một Tòa án khác . Trong trường hợp này, Thẩm phán có thể chuyển đơn đến Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện.
Do đó, khi nhận thông báo xử lý đơn, người khởi kiện cần kiểm tra chính xác lý do Tòa án xác định vụ án không thuộc thẩm quyền.
1.6. Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu
Khi đơn khởi kiện viết sai, viết thiếu nội dung, Thẩm phán sẽ yêu cầu sửa đổi, bổ sung. Nếu người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 193 của Bộ luật này thì Tòa án sẽ trả lại đơn .
Lưu ý quan trọng: Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện . Nhưng nếu người khởi kiện đã ghi đầy đủ, đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện mà người bị kiện cố tình giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung .
1.7. Người khởi kiện chủ động rút đơn
Theo điểm g khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì trong quá trình chờ thụ lý, hai bên đã tự thỏa thuận được với nhau và người khởi kiện rút đơn khởi kiện thì Tòa án cũng sẽ tiến hành trả lại đơn khởi kiện .
Tuy nhiên, nên lưu ý rằng trước khi rút đơn, người khởi kiện cần cân nhắc kỹ thời hiệu khởi kiện, điều kiện khởi kiện và khả năng khởi kiện lại , đặc biệt đối với các tranh chấp có thời hiệu ngắn.
2. Hậu quả pháp lý khi Tòa án trả lại đơn khởi kiện
Căn cứ khoản 2 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 khi trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo ch o người khởi kiện, Thẩm phán phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Để đảm bảo quyền khiếu nại của đương sự về sau, pháp luật quy định: Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao chép và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu .
3. Cách xử lý để không mất quyền lợi khi Tòa án trả lại đơn khởi kiện
Việc bị Tòa án trả lại đơn khởi kiện không đồng nghĩa đó là “dấu chấm hết” để người khởi kiện mất quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi. Tùy thuộc vào lý do trả đơn, người khởi kiện có thể áp dụng các biện pháp pháp lý dưới đây để tiếp tục bảo vệ quyền lợi của mình.
3.1. Thực hiện quyền khiếu nại đối với Quyết định trả lại đơn khởi kiện của Thẩm phán
Nếu bạn cho rằng hồ sơ của mình đã hợp lệ nhưng Thẩm phán làm sai luật, gây khó dễ, bạn hoàn toàn có quyền khiếu nại. Căn cứ Điều 194 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thủ tục khiếu nại diễn ra như sau:
Thời hạn khiếu nại: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện có quyền khiếu nại với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện.
Thủ tục giải quyết: Ngay sau khi nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm phán khác xem xét, giải quyết khiếu nại. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại với sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có khiếu nại . Thẩm phán có thể ra quyết định giữ nguyên việc trả lại đơn, hoặc nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án .
Khiếu nại lên cấp cao hơn: Nếu bạn vẫn không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Thẩm phán, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định trả lời khiếu nại, người khởi kiện có quyền khiếu nại với Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp xem xét, giải quyết. Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp phải ra quyết định trong thời hạn 10 ngày; quyết định này có hiệu lực thi hành .
Vì vậy, Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp là quyết định cuối cùng .
3.2. Củng cố hồ sơ và Khởi kiện lại vụ án
Nếu Tòa án trả lại đơn là đúng luật (do bạn chưa đủ điều kiện, thiếu năng lực hành vi hoặc nhầm lẫn thủ tục), bạn không nên khiếu nại mà cần tập trung khắc phục những thiếu sót đó. Căn cứ khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại trong các trường hợp sau đây :
Người khởi kiện đã có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự (Ví dụ: Lúc nộp đơn bị bệnh tâm thần, sau khi chữa khỏi bệnh đã khôi phục năng lực hành vi).
Đã có đủ điều kiện khởi kiện (Ví dụ: Đã hoàn tất thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã).
Đối với các yêu cầu đặc thù như yêu cầu ly hôn, thay đổ i nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng… mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại.
Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật .
4. Lời khuyên pháp lý từ đội ngũ Luật sư Nhung & Partners
Việc Tòa án trả lại đơn có thể xuất phát từ những thiếu sót về thẩm quyền, điều kiện khởi kiện, nội dung đơn hoặc tài liệu, chứng cứ . Nếu không xử lý kịp thời, người khởi kiện có thể gặp bất lợi về thời hiệu và quá trình bảo vệ quyền lợi của mình, vô tình tạo kẽ hở về thời gian để bên bị kiện tẩu tán tài sản, gây bất lợi cho việc thi hành án sau này .
Mỗi vụ án dân sự đều có những tình tiết và hoàn cảnh khách quan khác nhau, trong khi pháp luật không thể bao quát toàn bộ mọi biến số của thực tế. Tại Nhung & Partners , chúng tôi hiểu rằng việc cung cấp dịch vụ pháp lý đòi hỏi sự tận tâm, trách nhiệm và am hiểu chuyên môn sâu sắc. Chúng tôi tuân thủ nghiêm ngặt các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, không đưa ra những cam kết về kết quả thắng kiện 100% , bởi phán quyết cuối cùng luôn phụ thuộc vào hệ thống chứng cứ khách quan và quyết định của cơ quan tài phán.
Tuy nhiên, bằng bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp, đội ngũ Luật sư của Nhung & Partners luôn sẵn sàng đồng hành cùng quý khách hàng từ khâu thẩm định hồ sơ, hoàn thiện các “điều kiện khởi kiện”, cho đến việc soạn thảo đơn từ sắc bén và đại diện giải quyết mọi khiếu nại với cơ quan tiến hành tố tụng. Sự đồng hành của chuyên gia pháp lý sẽ giúp hồ sơ của bạn được thụ lý nhanh chóng, chặn đứng mọi rủi ro bị trả lại đơn khởi kiện một cách vô lý.
Bạn muốn tìm hiểu thêm về tranh chấp hợp đồng, tài sản hay thừa kế? Xem ngay các bài viết cập nhật mới nhất trong mục Tư vấn luật dân sự.
Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm: Bài viết trên đây chỉ mang tính chất thông tin, tham khảo chung dựa trên các quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm đăng tải. Nội dung này không cấu thành lời khuyên pháp lý chuyên sâu và không thể thay thế cho giải pháp tư vấn cụ thể đối với từng hồ sơ vụ việc. Khuyến nghị quý khách hàng liên hệ trực tiếp với các tổ chức hành nghề Luật sư hoặc cơ quan có thẩm quyền để được tư vấn chính xác nhất.