Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc là hành vi được quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự . Tuy nhiên, không phải cứ có nhiều người đánh bạc hoặc có người đánh bạc tại nhà, phòng hay địa điểm của một cá nhân thì người quản lý địa điểm đó đương nhiên phạm tội. Cần xác định vai trò, hành vi thực tế và đối chiếu với ít nhất một trường hợp luật quy định.
Điều 322 quy định cụ thể các trường hợp như tổ chức cho số lượng người nhất định cùng đánh bạc, tổ chức nhiều chiếu bạc, sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý để đánh bạc, bố trí người canh gác, lắp đặt thiết bị phục vụ đánh bạc hoặc sử dụng phương tiện điện tử để phạm tội.
Vậy tổ chức đánh bạc bao nhiêu người thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự? Gá bạc được xác định trong những trường hợp nào? Tổ chức đánh bạc qua mạng bị phạt bao nhiêu năm tù?
1. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc được quy định như thế nào?
Điều 322 BLHS quy định trách nhiệm hình sự đối với người tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép khi hành vi thuộc một trong các trường hợp được liệt kê tại khoản 1.
Các trường hợp này gồm: tổ chức đánh bạc với số lượng người hoặc chiếu bạc và điều kiện về tiền, hiện vật nhất định; sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình để cho đánh bạc; tổng tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng một lần đạt ngưỡng luật định; thực hiện các hành vi hỗ trợ được liệt kê; hoặc tiếp tục vi phạm sau khi đã bị xử phạt hành chính hay kết án về hành vi, tội danh liên quan.
Điều 321 BLHS điều chỉnh tội đánh bạc, trọng tâm là hành vi trực tiếp tham gia đánh bạc trái phép. Điều 322 hướng đến hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Dù hai tội danh có thể xuất hiện trong cùng một vụ việc, việc xác định tội danh đối với từng người phải dựa trên vai trò và hành vi thực tế của họ.
2. Tổ chức cho bao nhiêu người đánh bạc thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
Điểm a khoản 1 Điều 322 quy định hai trường hợp định lượng. Mỗi trường hợp đều yêu cầu đáp ứng cả điều kiện về số người hoặc số chiếu bạc và điều kiện về tổng tiền, hiện vật dùng đánh bạc:
Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc , đồng thời tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ: 5.000.000 đồng trở lên ; hoặc
Tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc , với tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên .
Như vậy, nếu chỉ xác định có từ 10 người chơi trở lên hoặc có từ 02 chiếu bạc trở lên là chưa đủ để kết luận đã thỏa mãn riêng điểm a nếu chưa làm rõ điều kiện về giá trị tiền, hiện vật dùng để đánh bạc . Ngược lại, nếu chưa đạt điều kiện của điểm a, vẫn cần xem xét liệu hành vi có thuộc trường hợp độc lập khác tại khoản 1 Điều 322 hay không.
3. Cho người khác sử dụng địa điểm để đánh bạc: khi nào có thể bị xử lý về hành vi gá bạc?
Điểm b khoản 1 Điều 322 đề cập trường hợp sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình để cho người khác đánh bạc thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Gá bạc, nếu hành vi thỏa mãn một trong hai nội dung sau:
Cho từ 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc và tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá từ 5.000.000 đồng trở lên ; hoặc
Cho từ 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc và tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá từ 5.000.000 đồng trở lên .
Khi áp dụng quy định này, cần làm rõ ít nhất 3 vấn đề:
Địa điểm có thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của người bị xem xét hay không;
Người đó có thực sự sử dụng địa điểm để cho hoạt động đánh bạc diễn ra hay không; và
Các điều kiện về số người hoặc số chiếu bạc cùng giá trị tiền, hiện vật có được đáp ứng hay không.
Không nên mặc nhiên coi việc có người đánh bạc tại nhà hoặc tại một cơ sở là đủ căn cứ truy cứu chủ sở hữu hay người quản lý địa điểm.
Nếu không đủ căn cứ áp dụng điểm b, cơ quan có thẩm quyền vẫn phải xem xét những tình tiết khác của vụ việc. Chẳng hạn, người liên quan có tổ chức việc đánh bạc, bố trí người canh gác, lắp đặt thiết bị hay thực hiện hành vi khác thuộc điểm d khoản 1 Điều 322 hay không.
4. Tổng giá trị tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc từ 20 triệu đồng trở lên thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Có thể.
Điểm c khoản 1 Điều 322 quy định một trường hợp độc lập: Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá từ 20.000.000 đồng trở lên.
Đây là căn cứ khác với các trường hợp về số người, số chiếu bạc hoặc việc sử dụng địa điểm tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 322.
Vì vậy, khi xác định trách nhiệm theo điểm c khoản 1 Điều 322, trọng tâm là chứng minh tổng giá trị tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng một lần đạt ngưỡng 20.000.000 đồng và hành vi của người bị xem xét là tội tổ chức đánh bạc hoặc tội gá bạc.
Không thể đồng nhất ngưỡng này với số tiền mà một người riêng lẻ mang theo hoặc với khoản lợi mà người tổ chức thu được. Việc xác định tổng giá trị tiền, hiện vật cần dựa trên chứng cứ và hướng dẫn pháp luật áp dụng cho vụ việc cụ thể.
5. Bố trí người canh gác, phục vụ hoặc phương tiện hỗ trợ đánh bạc có thể bị xử lý hình sự không?
Điểm d khoản 1 Điều 322 quy định các hành vi hỗ trợ hoạt động đánh bạc, bao gồm:
Tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc;
Lắp đặt trang thiết bị phục vụ việc đánh bạc;
Phân công người canh gác;
Phân công người phục vụ khi đánh bạc;
Sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt;
Sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc.
Đây là những hành vi được điều luật nêu trực tiếp. Không phải tất cả các hành vi trên đều phải đồng thời xuất hiện mới có thể xem xét theo điểm d khoản 1 Điều 322; tuy nhiên, cần chứng minh hành vi cụ thể có liên hệ với việc tổ chức hoặc tạo điều kiện cho hoạt động đánh bạc trái phép, cũng như vai trò của người thực hiện.
Chẳng hạn, sự hiện diện của camera hay nhân viên bảo vệ tại một địa điểm cụ thể chưa đủ cơ sở để kết luận có hành vi canh gác phục vụ đánh bạc nếu thiếu chứng cứ về mục đích và mối liên hệ thực tế.
6. Đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc kết án, chưa được xóa án tích về tội Đánh bạc hoặc Tổ chức đánh bạc mà tiếp tục vi phạm thì như thế nào?
Điểm đ khoản 1 Điều 322 quy định một trường hợp khác để xem xét trách nhiệm hình sự về tội này:
Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều 322 hoặc hành vi quy định tại Điều 321 mà còn vi phạm ; hoặc
Đã bị kết án về tội tại Điều 322 hoặc Điều 321, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Tuy nhiên, khi xem xét dấu hiệu cấu thành tội này, cần kiểm tra đúng loại vi phạm hoặc tội danh đã bị xử lý trước đó; một quyết định xử phạt hành chính không liên quan hoặc một bản án về tội danh khác không mặc nhiên thỏa mãn các trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 322.
Đồng thời, hành vi mới vẫn phải là tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép. Nếu thuộc điểm đ, đây là một căn cứ riêng tại khoản 1, không phải lúc nào cũng cần đồng thời đáp ứng ngưỡng về số người, số chiếu bạc hoặc 20.000.000 đồng ở các điểm khác.
7. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc bị phạt như thế nào?
Điều 322 quy định hai khung hình phạt chính và hình phạt bổ sung có thể được áp dụng như sau:
Căn cứ áp dụng
Hình phạt theo Điều 322
Khoản 1: hành vi thuộc một trong các trường hợp tại các điểm a, b, c, d hoặc đ
Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Khoản 2: phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng trở lên; sử dụng mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội; hoặc tái phạm nguy hiểm
Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
Khoản 3: hình phạt bổ sung
Có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Đồng thời, theo Điều 50 và Điều 51 BLHS, Tòa án xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cùng những quy định có liên quan.
Việc có một tình tiết giảm nhẹ không đồng nghĩa chắc chắn được áp dụng mức án cụ thể; tình tiết đã được dùng làm dấu hiệu định tội hoặc định khung cũng không được tính lại là tình tiết giảm nhẹ.
8. Tổ chức đánh bạc qua mạng bị phạt bao nhiêu năm tù?
Điểm c khoản 2 Điều 322 quy định khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù đối với trường hợp sử dụng mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để thực hiện hành vi phạm tội. Đây là tình tiết định khung hình phạt nặng hơn đối với hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc.
Cần lưu ý rằng việc sử dụng Internet, ứng dụng nhắn tin, tài khoản ngân hàng hoặc một phương tiện điện tử trong vụ việc không mặc nhiên được xem là đã đủ điều kiện áp dụng điểm c.
Trước hết, phải xác định hành vi đã cấu thành tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc theo Điều 322; tiếp đó, cần chứng minh phương tiện mạng hoặc điện tử được sử dụng để thực hiện tội phạm. Vai trò của từng người, dữ liệu tài khoản, nội dung trao đổi, lịch sử giao dịch, thông tin trên thiết bị và các chứng cứ khác có thể cần được kiểm tra theo vụ việc cụ thể.
9. Phân biệt tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (Điều 322) với tội đánh bạc (Điều 321)
Hai tội danh được quy định tại Điều 321 và Điều 322 BLHS có liên quan nhưng không đồng nhất. Có thể phân biệt khái quát như sau:
Tiêu chí
Tội đánh bạc – Điều 321
Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc – Điều 322
Hành vi trọng tâm
Trực tiếp tham gia đánh bạc trái phép dưới hình thức được thua bằng tiền hoặc hiện vật.
Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép; xem xét vai trò tổ chức, sử dụng địa điểm và các hành vi hỗ trợ được Điều 322 liệt kê.
Căn cứ cơ bản về tiền, hiện vật
Theo khoản 1: từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; hoặc dưới 5.000.000 đồng nếu đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc/hành vi tại Điều 322 mà còn vi phạm, hoặc đã bị kết án về tội tại Điều 321/322, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Không có một ngưỡng duy nhất áp dụng cho mọi trường hợp. Điểm a và b có điều kiện 5.000.000 đồng đi kèm số người/chiếu bạc; điểm c quy định tổng tiền, hiện vật từ 20.000.000 đồng trong cùng một lần; điểm d và đ là những căn cứ khác.
Khung hình phạt chính
Khoản 1: phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc tù từ 06 tháng đến 03 năm; khoản 2: tù từ 03 năm đến 07 năm.
Khoản 1: phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc tù từ 01 năm đến 05 năm; khoản 2: tù từ 05 năm đến 10 năm.
Tội danh không được quyết định chỉ bởi việc một người có mặt tại nơi đánh bạc. Cần làm rõ người đó chỉ tham gia chơi hay còn có hành vi đứng ra tổ chức, bố trí địa điểm, phân công người canh gác, cung cấp phương tiện hoặc thực hiện hành vi thuộc Điều 322. Tùy vào từng chứng cứ, các cá nhân trong cùng vụ việc có thể có vai trò và trách nhiệm hình sự khác nhau.
10. Người dưới 16 tuổi có phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức đánh bạc không?
Theo khoản 1 Điều 12 BLHS, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ trường hợp Bộ luật có quy định khác. Khoản 2 Điều 12 giới hạn trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đối với danh mục tội phạm được liệt kê; Điều 322 không nằm trong danh mục này.
Do đó, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc theo Điều 322. Người dưới 14 tuổi cũng chưa đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, khi xem xét trách nhiệm hình sự cần đồng thời đối chiếu quy định hiện hành về tư pháp người chưa thành niên. Kết luận về trách nhiệm hình sự không đồng nghĩa rằng hành vi của người chưa thành niên sẽ không phát sinh bất kỳ biện pháp xử lý, giáo dục hoặc bảo vệ nào khác theo pháp luật.
11. Có tình tiết giảm nhẹ thì mức hình phạt được xác định thế nào?
Điều 51 BLHS quy định nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có các trường hợp như người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm; tự nguyện sửa chữa, bồi thường hoặc khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Tuy nhiên, Điều 51 cũng quy định tình tiết đã được sử dụng làm dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được tiếp tục coi là tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt.
Do đó, không thể chỉ dựa vào một tình tiết để khẳng định trước người phạm tội sẽ được áp dụng mức án cụ thể.
12. Những dấu hiệu cần chú ý khi xem xét tội tổ chức đánh bạc
Khi đánh giá một vụ việc có dấu hiệu tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, nên kiểm tra theo từng nhóm vấn đề thay vì chỉ nhìn vào số tiền thu giữ hoặc việc có người đánh bạc tại địa điểm:
Vai trò và hành vi thực tế của từng người: trực tiếp chơi, tổ chức, bố trí địa điểm, thu xếp hoạt động hay hỗ trợ người chơi.
Số người đánh bạc và số chiếu bạc trong cùng một lúc ; chứng cứ thể hiện các con số này.
Tổng giá trị tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng một lần; phân biệt ngưỡng 5.000.000 đồng, 20.000.000 đồng và khoản thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng.
Quyền sở hữu hoặc quản lý địa điểm và việc người bị xem xét có sử dụng địa điểm để cho hoạt động đánh bạc diễn ra hay không.
Xác định các tình tiết khác: nơi cầm cố tài sản, thiết bị phục vụ đánh bạc, người canh gác, người phục vụ, lối thoát hoặc phương tiện hỗ trợ; mối liên hệ của từng hành vi với hoạt động đánh bạc trái phép.
Lịch sử xử phạt hành chính hoặc kết án trước đây: đúng hành vi/tội danh được Điều 322 đề cập hay không; nếu là bản án thì đã được xóa án tích hay chưa.
Nếu thực hiện hành vi phạm tội qua không gian mạng: phương tiện điện tử được dùng như thế nào để thực hiện tội phạm và dữ liệu nào chứng minh vai trò của từng người.
Độ tuổi, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các quy định đặc biệt có liên quan khi quyết định hình phạt.
Việc xem xét cần dựa trên toàn bộ tình tiết thực tế thay vì chỉ căn cứ vào một dấu hiệu riêng lẻ.
13. Kết luận
Để xác định trách nhiệm hình sự về tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, cần đối chiếu hành vi phạm tội với các căn cứ tại khoản 1 Điều 322 BLHS. Các ngưỡng 5.000.000 đồng, 20.000.000 đồng và 50.000.000 đồng không thể dùng thay thế cho nhau: ngưỡng 5.000.000 đồng gắn với các trường hợp cụ thể về số người/chiếu bạc hoặc địa điểm; ngưỡng 20.000.000 đồng là căn cứ về tổng giá trị tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng một lần; còn mức 50.000.000 đồng tại khoản 2 là ngưỡng thu lợi bất chính để áp dụng khung hình phạt nặng hơn.
Khung hình phạt theo khoản 1 là phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm; khoản 2 quy định phạt tù từ 05 năm đến 10 năm khi có một trong các tình tiết định khung tương ứng. Để kết luận đúng tội danh và mức hình phạt, phải xem xét vai trò, hành vi, điều kiện định lượng và chứng cứ của từng người trong vụ việc.
Thông tin pháp lý liên quan có thể tham khảo thêm tại Tư vấn luật hình sự – Nhung & Partners và Facebook Nhung & Partners .
Nội dung bài viết được cung cấp nhằm mục đích tham khảo và phổ biến kiến thức pháp luật , không thay thế cho ý kiến tư vấn pháp lý đối với từng vụ việc cụ thể. Do mỗi vụ việc có tình tiết, tài liệu và chứng cứ khác nhau, việc áp dụng quy định pháp luật và kết quả giải quyết có thể khác nhau. Khi phát sinh vụ việc thực tế, người đọc nên liên hệ trực tiếp với luật sư hoặc người có chuyên môn để được xem xét hồ sơ và tư vấn phù hợp.