Trong nhiều vụ án hình sự, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội hoặc gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, trả lại tài sản hoặc khắc phục hậu quả nhằm hạn chế những tổn thất xảy ra. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu rõ việc bồi thường có được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hay không.
Vậy tự nguyện bồi thường có được giảm nhẹ hình phạt không? Bồi thường bao nhiêu thì được giảm nhẹ? Trường hợp gia đình bồi thường thay có được xem xét không? Người phạm tội có hai tình tiết giảm nhẹ có được xử dưới khung hình phạt không?
Bài viết dưới đây phân tích các vấn đề trên theo Bộ luật Hình sự hiện hành và Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
1. Tự Nguyện Bồi Thường, Khắc Phục Hậu Quả Có Được Giảm Nhẹ Hình Phạt Không?
Có. Tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả là một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được pháp luật quy định.
Theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bao gồm: “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả.”
Đồng thời, khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP hướng dẫn cụ thể những trường hợp được áp dụng tình tiết giảm nhẹ này.
Như vậy, người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại hoặc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả có thể được Tòa án xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt.
Tuy nhiên, việc được áp dụng tình tiết giảm nhẹ không đồng nghĩa với việc đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc được giảm một số năm tù cụ thể.
2. Thế Nào Là Tự Nguyện Bồi Thường Thiệt Hại?
Tự nguyện bồi thường thiệt hại được hiểu là việc người phạm tội chủ động hoặc đồng ý thực hiện các biện pháp sửa chữa, bồi thường, khắc phục những thiệt hại, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra.
Trong thực tế, việc bồi thường thiệt hại có thể được thể hiện thông qua việc hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt, thanh toán chi phí điều trị cho người bị hại, bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, tài sản hoặc sửa chữa tài sản bị hư hỏng.
Theo khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP, việc áp dụng tình tiết này còn phụ thuộc vào sự chủ động, tích cực của người phạm tội và hiệu quả, mức độ của việc bồi thường, khắc phục hậu quả.
Do đó, tự nguyện bồi thường phải được xem xét trên cơ sở hành vi thực tế và tài liệu chứng minh, không chỉ dựa vào lời cam kết sẽ bồi thường trong tương lai.
3. Phải Bồi Thường Toàn Bộ Thiệt Hại Mới Được Giảm Nhẹ Không?
Không nhất thiết phải bồi thường toàn bộ thiệt hại mới được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Theo Điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự không quy định người phạm tội bắt buộc phải hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ bồi thường mới được áp dụng tình tiết này.
Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP, mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào sự chủ động, tích cực và hiệu quả, mức độ bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả.
Vì vậy, trường hợp người phạm tội mới bồi thường một phần thiệt hại, cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét số tiền đã bồi thường, tỷ lệ thiệt hại được khắc phục, điều kiện thực tế và thái độ của người phạm tội. Tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại vẫn có thể được xem xét giảm nhẹ , nhưng không có nghĩa mọi khoản bồi thường đều đương nhiên đáp ứng điều kiện áp dụng.
4. Bồi Thường Bao Nhiêu Thì Được Giảm Nhẹ Hình Phạt?
Pháp luật hình sự hiện hành không quy định một mức tiền bồi thường cố định để người phạm tội được giảm nhẹ hình phạt.
Theo đó, không có quy định chung rằng bồi thường 10 triệu đồng, 50 triệu đồng hoặc 50% giá trị thiệt hại thì chắc chắn được giảm một số tháng hoặc số năm tù.
Ví dụ: Trong một vụ án gây thiệt hại 100 triệu đồng, người phạm tội đã tự nguyện bồi thường 80 triệu đồng. Trong vụ án khác gây thiệt hại 2 tỷ đồng, người phạm tội cũng bồi thường 80 triệu đồng. Có thể nhận thấy mặc dù số tiền bồi thường bằng nhau, nhưng mức độ khắc phục hậu quả trong hai vụ án khác nhau.
Do đó, Tòa án phải đánh giá toàn diện hành vi tự nguyện bồi thường, mức độ thiệt hại đã khắc phục và các tình tiết liên quan khi quyết định hình phạt.
5. Gia Đình Bồi Thường Thay Có Được Xem Là Tình Tiết Giảm Nhẹ Không?
Có thể được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nếu đáp ứng điều kiện theo quy định pháp luật.
Theo điểm a khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP, trường hợp người phạm tội đồng ý để cha, mẹ hoặc người khác như vợ, chồng, con, anh, chị, em, bạn bè thực hiện việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra thì thuộc trường hợp được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ví dụ: Người phạm tội đang bị tạm giam nhưng đồng ý để gia đình thay mặt thanh toán chi phí điều trị và bồi thường thiệt hại cho người bị hại. Trong trường hợp này, việc gia đình trực tiếp giao tiền không làm mất đi giá trị của hành vi tự nguyện bồi thường.
Tuy nhiên, cần có tài liệu chứng minh việc bồi thường đã được thực hiện và sự đồng ý của người phạm tội để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét.
6. Bồi Thường Thiệt Hại Có Được Giảm Bao Nhiêu Năm Tù?
Không có công thức cố định quy đổi số tiền bồi thường thành số năm tù được giảm.
Theo Điều 50 Bộ luật Hình sự, khi quyết định hình phạt, Tòa án phải cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Vì vậy, việc tự nguyện bồi thường thiệt hại chỉ là một trong các căn cứ để Tòa án xem xét quyết định hình phạt phù hợp. Người phạm tội không thể căn cứ vào số tiền đã bồi thường để xác định chắc chắn mình được giảm bao nhiêu tháng hoặc bao nhiêu năm tù.
Cần phân biệt việc Tòa án xem xét tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt với việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù sau khi bản án đã có hiệu lực pháp luật. Đây là hai vấn đề pháp lý khác nhau.
7. Bồi Thường Trước Hay Sau Khi Khởi Tố Có Khác Nhau Không?
Việc tự nguyện bồi thường trước hoặc sau khi khởi tố đều có thể được xem xét khi quyết định hình phạt nếu đáp ứng điều kiện áp dụng. Điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự không giới hạn tình tiết giảm nhẹ chỉ đối với trường hợp bồi thường trước khi khởi tố vụ án.
Tuy nhiên, thời điểm bồi thường có thể được cân nhắc khi đánh giá sự chủ động, tích cực và thái độ khắc phục hậu quả của người phạm tội. Người phạm tội chủ động bồi thường ngay sau khi hành vi xảy ra có thể thể hiện thái độ khắc phục hậu quả sớm. Trường hợp bồi thường trong giai đoạn điều tra, truy tố hoặc xét xử cũng cần được đánh giá trên cơ sở chứng cứ thực tế.
Do đó, việc tự nguyện bồi thường càng sớm, có chứng cứ rõ ràng và khắc phục được nhiều thiệt hại thì càng có cơ sở để đề nghị xem xét mức độ giảm nhẹ phù hợp.
8. Người Bị Hại Không Nhận Tiền Bồi Thường Thì Làm Thế Nào?
Trong thực tế, có trường hợp người phạm tội muốn bồi thường thiệt hại nhưng người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự không đồng ý nhận tiền.
Theo điểm c và điểm d khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP, tình tiết giảm nhẹ vẫn có thể được áp dụng trong những trường hợp được hướng dẫn cụ thể.
Trường hợp thứ nhất: Người phạm tội tự nguyện hoặc đồng ý để người khác sử dụng tiền, tài sản bồi thường nhưng bên có quyền từ chối nhận và tiền, tài sản đã được giao cho cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác quản lý để thực hiện việc bồi thường, khắc phục hậu quả.
Trường hợp thứ hai: Có chứng cứ chứng minh việc tự nguyện bồi thường hoặc đồng ý để người khác bồi thường nhưng bên có quyền từ chối nhận và số tiền, tài sản đã được cất giữ, gửi giữ để sẵn sàng thực hiện việc bồi thường khi có yêu cầu.
Như vậy, người bị hại từ chối nhận tiền không đương nhiên làm mất quyền được xem xét tình tiết giảm nhẹ . Tuy nhiên, người phạm tội phải đáp ứng những điều kiện và có chứng cứ chứng minh theo quy định.
9. Bồi Thường Và Thành Khẩn Khai Báo Có Được Tính Thành Hai Tình Tiết Giảm Nhẹ Không?
Có. Tự nguyện bồi thường và thành khẩn khai báo có thể được xác định là hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự độc lập nếu đều đáp ứng điều kiện áp dụng.
Cụ thể, điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự quy định về người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả. Ngoài ra, tại Điểm s khoản 1 Điều 51 quy định về trường hợp người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Do đó, nếu người phạm tội vừa tự nguyện bồi thường thiệt hại, vừa thành khẩn khai báo thì có thể được xem xét áp dụng hai tình tiết giảm nhẹ tương ứng với điểm b và điểm s khoản 1 Điều 51.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc vừa bồi thường thiệt hại vừa khắc phục hậu quả không mặc nhiên được tính thành hai tình tiết giảm nhẹ độc lập, bởi cả hai cùng thuộc điểm b khoản 1 Điều 51.
Tương tự, theo khoản 17 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải không được tính thành hai tình tiết giảm nhẹ độc lập mà chỉ được xác định là một tình tiết theo điểm s khoản 1 Điều 51.
10. Có Hai Tình Tiết Giảm Nhẹ Có Được Xử Dưới Khung Hình Phạt Không?
Theo khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51.
Tuy nhiên, khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP hướng dẫn rằng, đối với trường hợp áp dụng khoản 1 Điều 54, số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên, trong đó phải có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51.
Ví dụ: Người phạm tội có tình tiết tự nguyện bồi thường theo điểm b và thành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1 Điều 51, đồng thời không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Khi đó, người phạm tội có thể đáp ứng điều kiện về số lượng tình tiết giảm nhẹ để Tòa án xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54.
Tuy nhiên, có hai tình tiết giảm nhẹ không đồng nghĩa với việc chắc chắn được xử dưới khung hình phạt . Việc áp dụng Điều 54 là quyền quyết định của Tòa án trên cơ sở những điều kiện luật định và tính chất cụ thể của vụ án.
11. Tự Nguyện Bồi Thường Thiệt Hại Có Được Hưởng Án Treo Không?
Tự nguyện bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả có thể là tình tiết giảm nhẹ được xem xét khi đánh giá điều kiện hưởng án treo.
Theo Điều 65 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, việc cho hưởng án treo phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.
Các điều kiện cần xem xét bao gồm mức hình phạt tù không quá 03 năm, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng, nơi cư trú hoặc nơi làm việc rõ ràng, cùng những điều kiện khác theo quy định.
Vì vậy, tự nguyện bồi thường và khắc phục hậu quả là yếu tố có thể có lợi cho người phạm tội nhưng không phải căn cứ duy nhất để được hưởng án treo.
12. Bồi Thường Thiệt Hại Có Đồng Nghĩa Với Việc Được Bãi Nại Không?
Bồi thường thiệt hại và việc người bị hại rút yêu cầu khởi tố là hai vấn đề pháp lý khác nhau.
Việc tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả là hành vi có thể được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trong khi đó, theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự, việc rút yêu cầu khởi tố có hậu quả pháp lý đối với những vụ án thuộc trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Do đó, không phải cứ bồi thường thiệt hại hoặc được người bị hại làm đơn bãi nại thì vụ án hình sự sẽ được đình chỉ .
Cần xác định cụ thể tội danh, khoản áp dụng và điều kiện khởi tố theo yêu cầu của bị hại để đánh giá hậu quả pháp lý của việc rút yêu cầu.
13. Người Bị Hại Xin Giảm Nhẹ Hình Phạt Có Được Tòa Án Xem Xét Không?
Có thể được xem xét trong những trường hợp pháp luật quy định.
Theo khoản 7 Điều 3 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP, trường hợp người bị hại hoặc người đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho người phạm tội trong vụ án chỉ gây tổn hại về sức khỏe của người bị hại hoặc gây thiệt hại về tài sản có thể được coi là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, bên cạnh việc tự nguyện bồi thường, ý kiến xin giảm nhẹ của người bị hại cũng có thể được Tòa án xem xét theo căn cứ pháp lý tương ứng.
Tuy nhiên, đây không phải tình tiết mặc nhiên áp dụng cho tất cả vụ án hình sự. Việc xem xét còn phụ thuộc vào loại thiệt hại và các điều kiện cụ thể của vụ án.
Đồng thời, cần phân biệt tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 với những tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 51 khi xem xét điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự.
14. Cần Chuẩn Bị Tài Liệu Gì Để Chứng Minh Đã Bồi Thường, Khắc Phục Hậu Quả?
Để việc tự nguyện bồi thường được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, người phạm tội cần chuẩn bị tài liệu chứng minh việc bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả đã được thực hiện.
Các tài liệu có thể bao gồm biên bản giao nhận tiền, chứng từ chuyển khoản, văn bản xác nhận của người bị hại, thỏa thuận bồi thường, chứng từ thanh toán chi phí điều trị, tài liệu chứng minh việc hoàn trả hoặc sửa chữa tài sản. Trường hợp gia đình bồi thường thay, cần bổ sung tài liệu chứng minh ý chí đồng ý của người phạm tội khi cần thiết.
Nếu người bị hại từ chối nhận tiền, cần lưu giữ tài liệu chứng minh việc đề nghị bồi thường và thực hiện các biện pháp quản lý, cất giữ hoặc gửi giữ tiền, tài sản theo điều kiện được hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP.
Những tài liệu này cần được cung cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng để xem xét, đánh giá trong quá trình giải quyết vụ án.
15. Một Số Câu Hỏi Thường Gặp
Tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại có chắc chắn được giảm nhẹ hình phạt không?
Việc tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại là căn cứ để xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, không có quy định bảo đảm người phạm tội chắc chắn được giảm một mức hình phạt cụ thể.
Chỉ bồi thường một phần thiệt hại có được giảm nhẹ không?
Có thể được xem xét nếu đáp ứng điều kiện áp dụng. Mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào sự chủ động, tích cực và hiệu quả, mức độ khắc phục hậu quả thực tế.
Gia đình tự nguyện bồi thường thay có được giảm nhẹ không?
Có thể được xem xét khi người phạm tội đồng ý để gia đình thực hiện việc bồi thường hoặc thuộc trường hợp khác được hướng dẫn tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP.
Bồi thường và thành khẩn khai báo có phải hai tình tiết giảm nhẹ không?
Có thể được xác định là hai tình tiết giảm nhẹ độc lập theo điểm b và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nếu từng tình tiết đáp ứng điều kiện áp dụng.
Có hai tình tiết giảm nhẹ thì có được hưởng án treo không?
Không đương nhiên. Người phạm tội còn phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện về án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự và các văn bản hướng dẫn có liên quan.
Người bị hại không nhận tiền thì có được xem xét tình tiết giảm nhẹ không?
Có thể được xem xét nếu việc tự nguyện bồi thường và các biện pháp xử lý tiền, tài sản đáp ứng điều kiện theo điểm c hoặc điểm d khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP.
16. Kết Luận
Tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả là một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quan trọng khi Tòa án quyết định hình phạt.
Theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP, người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả có thể được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi đáp ứng điều kiện pháp luật.
Tuy nhiên, việc bồi thường thiệt hại không đồng nghĩa với việc chắc chắn được giảm một số năm tù, được hưởng án treo hoặc được miễn trách nhiệm hình sự.
Đặc biệt, trường hợp người phạm tội có hai tình tiết giảm nhẹ cần được xem xét theo Điều 54 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP để xác định khả năng quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Vì vậy, khi thực hiện việc tự nguyện bồi thường, người phạm tội và gia đình cần lưu giữ đầy đủ chứng cứ, đồng thời xem xét các quy định pháp luật có liên quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Có thể tham khảo thêm các nội dung liên quan tại Tư vấn luật hình sự – Nhung & Partners và Facebook Nhung & Partners .
Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm
Nội dung bài viết được cung cấp nhằm mục đích tham khảo và phổ biến kiến thức pháp luật , không thay thế cho ý kiến tư vấn pháp lý đối với từng vụ việc cụ thể. Do mỗi vụ việc có tình tiết, tài liệu và chứng cứ khác nhau, việc áp dụng quy định pháp luật và kết quả giải quyết có thể khác nhau. Khi phát sinh vụ việc thực tế, người đọc nên liên hệ trực tiếp với luật sư hoặc người có chuyên môn để được xem xét hồ sơ và tư vấn phù hợp.