Đánh nhau gây thương tích bao nhiêu phần trăm thì bị khởi tố? Thương tích dưới 11% có bị xử lý hình sự không? Nếu hai bên đã hòa giải hoặc người bị hại rút đơn thì vụ án có được đình chỉ không?
Đây là những vấn đề thường gặp khi xảy ra xô xát, đánh nhau hoặc sử dụng hung khí gây thương tích.
Theo Điều 134 Bộ luật Hình sự, tỷ lệ tổn thương cơ thể là căn cứ quan trọng nhưng không phải căn cứ duy nhất để xác định trách nhiệm hình sự . Trong nhiều trường hợp, dù thương tích dưới 11%, người thực hiện hành vi vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích.
Đồng thời, việc một hành vi có dấu hiệu của tội phạm và việc vụ án có được khởi tố hay không còn phụ thuộc vào các căn cứ khởi tố theo Bộ luật Tố tụng hình sự và, đối với khoản 1 Điều 134, yêu cầu khởi tố của bị hại theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Bao nhiêu phần trăm thương tích thì bị khởi tố?
Trong trường hợp thông thường, người cố ý gây thương tích mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% có thể thuộc khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự và bị xử lý về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Tuy nhiên, dưới 11% vẫn có thể bị xử lý hình sự nếu hành vi thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a đến k khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, chẳng hạn dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm; dùng a-xít hoặc hóa chất nguy hiểm; phạm tội có tổ chức; thuê gây thương tích; có tính chất côn đồ hoặc gây thương tích đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân
Vì vậy, không thể chỉ dựa vào tỷ lệ thương tích để kết luận có bị khởi tố hay không. Cần đồng thời xem xét hành vi, công cụ sử dụng, hậu quả, các tình tiết định tội, định khung và các căn cứ khởi tố theo Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Thương tích dưới 11% có bị xử lý hình sự không?
Có thể bị xử lý hình sự, nếu người gây thương tích có hành vi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự thì dù tỷ lệ thương tích dưới 11% vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ví dụ, tỷ lệ tổn thương cơ thể của người bị hại là 5%, nhưng người gây thương tích sử dụng hung khí nguy hiểm thì hành vi vẫn có thể thuộc khoản 1 Điều 134 và được xem xét trách nhiệm hình sự theo quy định. Tuy nhiên, việc xác định trách nhiệm hình sự vẫn phải dựa trên toàn bộ tình tiết của vụ việc, không chỉ dựa vào kết luận về tỷ lệ tổn thương cơ thể.
3. Tội cố ý gây thương tích bị phạt bao nhiêu năm tù?
Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định nhiều khung hình phạt khác nhau tùy thuộc vào tỷ lệ tổn thương cơ thể và các tình tiết của hành vi, cụ thể:
Khoản 1: Có thể bị cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Khoản 2: Phạt tù từ 02 năm đến 06 năm.
Khoản 3: Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
Khoản 4: Phạt tù từ 07 năm đến 14 năm.
Khoản 5: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
Khoản 6: Người chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Do đó, mức hình phạt cụ thể không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ tổn thương cơ thể mà còn phụ thuộc vào hậu quả, tình tiết định khung, số người bị hại, cách thức thực hiện hành vi và các tình tiết khác của vụ án.
4. Bị hại có phải làm đơn yêu cầu khởi tố không?
Đối với trường hợp thuộc khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, về nguyên tắc vụ án chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại trong các trường hợp luật định theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều này cần được phân biệt với các trường hợp thuộc khoản 2, khoản 3, khoản 4 hoặc khoản 5 Điều 134. Không phải mọi hành vi thuộc Điều 134 Bộ luật Hình sự đều thuộc cơ chế khởi tố theo yêu cầu của bị hại.
Vì vậy, cần tách hai vấn đề: hành vi có đủ dấu hiệu của tội phạm hay không và vụ án có thuộc trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại hay không.
5. Bị hại rút đơn thì vụ án có được đình chỉ không?
Nếu vụ án thuộc khoản 1 Điều 134 và được khởi tố theo yêu cầu của bị hại, khi người đã yêu cầu khởi tố tự nguyện rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự, trừ trường hợp có căn cứ xác định việc rút yêu cầu trái với ý muốn của họ do bị ép buộc hoặc cưỡng bức.
Cần lưu ý rằng thuật ngữ pháp lý là “rút yêu cầu khởi tố”, không phải mọi trường hợp “rút đơn” đều đương nhiên dẫn đến đình chỉ vụ án. Đồng thời, người đã rút yêu cầu khởi tố về nguyên tắc không có quyền yêu cầu lại , trừ trường hợp việc rút yêu cầu trước đó là do bị ép buộc hoặc cưỡng bức.
6. Hai bên hòa giải, bồi thường thì có hết trách nhiệm hình sự không?
Không phải trong mọi trường hợp. Hòa giải hoặc bồi thường không đương nhiên làm chấm dứt trách nhiệm hình sự.
Đối với vụ án thuộc khoản 1 Điều 134 và được khởi tố theo yêu cầu của bị hại, việc bị hại tự nguyện rút yêu cầu khởi tố có thể dẫn đến đình chỉ theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, hòa giải hoặc bồi thường không đồng nhất với việc rút yêu cầu khởi tố.
Đối với trường hợp không thuộc cơ chế khởi tố theo yêu cầu của bị hại, việc các bên hòa giải hoặc người gây thương tích đã bồi thường không tự động làm chấm dứt trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, việc tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả có thể được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP.
7. Chưa đến mức xử lý hình sự thì có bị phạt hành chính không?
Có thể bị phạt hành chính nếu hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Theo điểm a khoản 5 Điều 8 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự có thể bị phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với cá nhân.
Ngoài ra, người gây thiệt hại còn có thể phải bồi thường cho người bị thương theo quy định của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp thuộc các quy định khác được Nghị định này dẫn chiếu.
8. Người bị thương được yêu cầu bồi thường những gì?
Theo Điều 590 Bộ luật Dân sự, thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm có thể bao gồm chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe; thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút; chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc; các thiệt hại khác do luật quy định và một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần theo quy định.
Mức bồi thường cụ thể phụ thuộc vào thiệt hại thực tế, chứng cứ chứng minh, thỏa thuận của các bên và quy định pháp luật. Trong trường hợp tranh chấp, cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét các tài liệu, chứng cứ liên quan để xác định mức bồi thường.
9. Khi xảy ra vụ việc gây thương tích cần làm gì?
Người bị hại nên giữ lại hồ sơ y tế, hóa đơn điều trị, hình ảnh, video, camera, tin nhắn và thông tin người làm chứng. Việc giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể là tài liệu quan trọng để đánh giá dấu hiệu của tội phạm và xác định hậu quả, nhưng không phải tài liệu duy nhất quyết định trách nhiệm hình sự.
Người bị tố giác hoặc bị buộc tội cần làm rõ nguyên nhân vụ việc, diễn biến xô xát, công cụ sử dụng, kết luận giám định, việc bồi thường và các tình tiết giảm nhẹ .
Đối với các vụ việc xuất phát từ xô xát hoặc “đánh nhau”, cũng cần xem xét quy định về phòng vệ chính đáng tại Điều 22 Bộ luật Hình sự. Hành vi chống trả cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng trước người đang có hành vi xâm phạm là phòng vệ chính đáng và không phải là tội phạm; chỉ khi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì mới phát sinh trách nhiệm hình sự theo điều kiện luật định.
Luật sư hỗ trợ vụ án cố ý gây thương tích
Các vụ án cố ý gây thương tích không thể chỉ dựa vào tỷ lệ thương tích để kết luận tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Công ty Luật TNHH Nhung & Cộng Sự hỗ trợ tư vấn về dấu hiệu tội phạm, điều kiện khởi tố, kết luận giám định, yêu cầu bồi thường, soạn thảo đơn và tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng trong quá trình giải quyết vụ án.
Mỗi vụ việc có tình tiết khác nhau. Vì vậy, cần xem xét đầy đủ hồ sơ và diễn biến thực tế trước khi xác định trách nhiệm pháp lý.
Bạn có vụ việc cụ thể có thể tham khảo Tư vấn luật hình sự – Nhung & Partners .
Các thông tin khác của Nhung & Partners được cập nhật tại Facebook Nhung & Partners .
Nội dung bài viết mang tính chất tham khảo chung, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý đối với từng vụ việc cụ thể. Việc đình chỉ hay tiếp tục giải quyết vụ án phụ thuộc vào điều khoản khởi tố, kết quả giám định, các tình tiết của hành vi và hồ sơ tố tụng thực tế.