Tội đánh bạc là một trong những tội phạm được quy định tại Bộ luật Hình sự, có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức như đánh bài ăn tiền, cá độ, chơi số đề hoặc đánh bạc qua mạng.
Vậy đánh bạc bao nhiêu tiền thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự? Đánh bạc dưới 5 triệu đồng có bị xử lý không? Đánh bạc qua mạng bị phạt bao nhiêu năm tù?
Bài viết dưới đây phân tích các dấu hiệu cấu thành tội phạm, mức phạt tội đánh bạc và những vấn đề pháp lý thường gặp theo Điều 321 Bộ luật Hình sự .
Tội đánh bạc có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức như đánh bài ăn tiền, cá độ, chơi số đề hoặc đánh bạc qua mạng. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi đánh bạc đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Vậy đánh bạc bao nhiêu tiền thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự? Đánh bạc dưới 5 triệu đồng có bị xử lý không? Đánh bạc qua mạng bị phạt bao nhiêu năm tù?
Theo Điều 321 Bộ luật Hình sự , mốc định lượng cơ bản để truy cứu trách nhiệm hình sự là 5 triệu đồng. Tuy nhiên, người đánh bạc dưới mức tiền này vẫn có thể bị xử lý hình sự nếu thuộc các trường hợp luật định.
1. Tội đánh bạc được quy định tại điều nào?
Tội đánh bạc được quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung .
Theo khoản 1 Điều 321, người đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hoặc hiện vật trị giá từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trường hợp tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc dưới 5 triệu đồng, người thực hiện vẫn có thể bị xử lý hình sự nếu đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án về các hành vi, tội danh được Điều 321 quy định mà còn vi phạm.
2. Đánh bạc bao nhiêu tiền thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
Theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, mốc định lượng cơ bản để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc là từ 5.000.000 đồng .
Để xác định trách nhiệm hình sự, cần làm rõ số tiền hoặc giá trị hiện vật dùng đánh bạc, hình thức tham gia và tính chất trái phép của hành vi.
Đặc biệt, không thể chỉ căn cứ vào số tiền người tham gia mang theo, số tiền thu giữ hoặc tổng số tiền giao dịch để kết luận giá trị tiền dùng đánh bạc.
3. Đánh bạc dưới 5 triệu đồng có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Có thể.
Theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, người đánh bạc với số tiền hoặc hiện vật dưới 5 triệu đồng vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp:
Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc hành vi quy định tại Điều 322 mà còn vi phạm;
Đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Đối với trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính, cần xem xét thời hạn được coi là chưa bị xử phạt theo Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Như vậy, đánh bạc dưới 5 triệu đồng không đồng nghĩa với việc chắc chắn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự .
4. Đánh bạc 1 triệu, 2 triệu hoặc 3 triệu đồng có bị xử lý hình sự không?
Đối với hành vi đánh bạc với số tiền 1 triệu, 2 triệu hoặc 3 triệu đồng, việc xử lý phụ thuộc vào các điều kiện tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Nếu người thực hiện chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án thuộc các trường hợp luật định thì hành vi đánh bạc dưới 5 triệu đồng thông thường chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc.
Tuy nhiên, người thực hiện vẫn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.
Theo Điều 36 Nghị định 282/2025/NĐ-CP:
Hành vi mua số lô, số đề có thể bị phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng.
Một số hành vi đánh bạc trái phép khác chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự có thể bị phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng.
Việc áp dụng mức phạt cụ thể phụ thuộc vào hành vi và quy định pháp luật tương ứng.
5. Đánh bạc từ 5 triệu đến dưới 50 triệu đồng bị phạt thế nào?
Theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, người đánh bạc trái phép được thua bằng tiền hoặc hiện vật trị giá từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng có thể bị áp dụng một trong các hình phạt:
Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng;
Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm;
Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Đây là khung hình phạt cơ bản của tội đánh bạc .
Việc quyết định hình phạt cụ thể thuộc thẩm quyền của Tòa án, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
6. Đánh bạc từ 50 triệu đồng trở lên bị phạt bao nhiêu năm?
Theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự, người phạm tội có tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá từ 50 triệu đồng trở lên bị áp dụng khung hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
Đây là khung hình phạt chính cao nhất đối với tội đánh bạc.
Tuy nhiên, việc áp dụng khoản 2 Điều 321 còn phụ thuộc vào các tình tiết định khung tăng nặng khác, không chỉ căn cứ vào giá trị tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc.
7. Những trường hợp nào bị phạt tù từ 03 đến 07 năm?
Theo khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự, người phạm tội đánh bạc bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm nếu thuộc một trong các trường hợp:
Có tính chất chuyên nghiệp;
Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá từ 50 triệu đồng trở lên;
Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội;
Tái phạm nguy hiểm.
Việc áp dụng tình tiết định khung tăng nặng phải căn cứ vào hành vi thực tế và các chứng cứ trong vụ án.
8. Đánh bạc qua mạng bị xử lý như thế nào?
Theo điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự, hành vi sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội thuộc khung hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm .
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp sử dụng điện thoại hoặc internet để đánh bạc đều đương nhiên thuộc tình tiết định khung này.
Theo Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 04/9/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, cần phân biệt:
Đánh bạc trực tuyến: Người tham gia sử dụng mạng internet hoặc phương tiện điện tử để trực tiếp thực hiện các trò chơi được thua bằng tiền hoặc hiện vật trên môi trường mạng. Khi hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm, có thể áp dụng tình tiết định khung tại điểm c khoản 2 Điều 321.
Sử dụng điện thoại, Zalo hoặc email để liên lạc: Trường hợp chỉ sử dụng các phương tiện này để trao đổi, ghi số đề hoặc cá độ mà không hình thành trò chơi được thua trực tuyến thì không thuộc tình tiết định khung nói trên chỉ vì có sử dụng phương tiện điện tử.
Ngoài ra, việc xác định trách nhiệm hình sự vẫn phải căn cứ vào số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc và các dấu hiệu cấu thành tội phạm.
9. So Sánh Các Mức Phạt Tội Đánh Bạc
Theo Điều 321 Bộ luật Hình sự, mức phạt tội đánh bạc được phân biệt dựa trên giá trị tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc và các tình tiết định khung tăng nặng.
Trường hợp đánh bạc từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng: Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Khung này cũng áp dụng đối với hành vi đánh bạc dưới 5 triệu đồng nhưng thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 321.
Trường hợp đánh bạc từ 50 triệu đồng trở lên: Người phạm tội bị áp dụng khung hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm theo điểm b khoản 2 Điều 321.
Trường hợp đánh bạc có tính chất chuyên nghiệp, đánh bạc trực tuyến thuộc tình tiết định khung hoặc tái phạm nguy hiểm: Người phạm tội cũng có thể bị áp dụng khung hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm theo khoản 2 Điều 321, ngay cả khi số tiền dùng đánh bạc chưa đạt 50 triệu đồng, nếu hành vi đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Điểm khác biệt quan trọng: Khoản 1 Điều 321 cho phép áp dụng hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù. Trong khi đó, khoản 2 quy định hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
Ngoài hình phạt chính, khoản 3 Điều 321 còn quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền bổ sung từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng .
10. Đánh bạc lần đầu có bị đi tù không?
Đánh bạc lần đầu vẫn có thể bị phạt tù nếu hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Trường hợp thuộc khoản 2 Điều 321, khung hình phạt là từ 03 năm đến 07 năm tù.
Theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, việc phạm tội lần đầu không đồng nghĩa người thực hiện đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự hoặc không bị phạt tù.
11. Đánh bạc và tổ chức đánh bạc có phải cùng một tội không?
Không. Bộ luật Hình sự quy định hai tội danh riêng biệt.
Tội đánh bạc (Điều 321): Là hành vi đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hoặc hiện vật khi đáp ứng các dấu hiệu cấu thành tội phạm.
Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (Điều 322): Là hành vi tổ chức, bố trí, tạo điều kiện cho người khác đánh bạc trái phép thuộc các trường hợp được pháp luật quy định.
Điểm khác biệt: Tội đánh bạc tập trung vào hành vi tham gia đánh bạc, trong khi tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc liên quan đến hành vi tổ chức hoặc tạo địa điểm, điều kiện cho hoạt động đánh bạc trái phép.
Việc xác định tội danh phải căn cứ vào vai trò, hành vi và các chứng cứ của từng người tham gia.
Bạn đọc có thể tham khảo thêm tại chuyên mục Tư vấn luật hình sự – Nhung & Partners .
12. Người dưới 16 tuổi có bị truy cứu về tội đánh bạc không?
Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ trường hợp Bộ luật có quy định khác.
Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra đối với các tội phạm được liệt kê tại khoản 2 Điều 12.
Tội đánh bạc theo Điều 321 không thuộc danh sách này.
Do đó, người dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc.
Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, việc xử lý phải tuân thủ quy định riêng đối với người chưa thành niên phạm tội, trong đó có Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.
13. Có tình tiết giảm nhẹ thì mức phạt được xác định thế nào?
Theo Điều 51 Bộ luật Hình sự, người phạm tội đánh bạc có thể được xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như:
Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
Tự thú;
Thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;
Các tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định pháp luật.
Theo Điều 50 Bộ luật Hình sự, Tòa án quyết định hình phạt dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.
Có tình tiết giảm nhẹ không đồng nghĩa người phạm tội chắc chắn được miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc hưởng án treo.
14. “Bao nhiêu tiền thì bị truy cứu?” cần lưu ý điều gì?
Để xác định trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc, cần phân biệt ba mức giá trị:
Dưới 5 triệu đồng: Vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án mà Điều 321 quy định.
Từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng: Thuộc ngưỡng định lượng cơ bản tại khoản 1 Điều 321.
Từ 50 triệu đồng trở lên: Thuộc tình tiết định khung tại điểm b khoản 2 Điều 321, với mức phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
Đặc biệt, cần xác định đúng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc theo từng lần, phương thức thực hiện và các chứng cứ liên quan.
Không nên mặc nhiên cộng toàn bộ số tiền của nhiều lần đánh bạc hoặc chỉ dựa trên tổng số tiền chuyển khoản để xác định khung hình phạt.
15. Kết luận
Tội đánh bạc được quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Mốc định lượng cơ bản để truy cứu trách nhiệm hình sự là tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá từ 5 triệu đồng trở lên .
Tuy nhiên, đánh bạc dưới 5 triệu đồng vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc các trường hợp luật định. Tùy tính chất hành vi và các tình tiết định khung, mức phạt tội đánh bạc có thể là phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 07 năm.
Đối với hành vi đánh bạc qua mạng, cần xác định phương thức thực hiện để xem xét việc áp dụng tình tiết định khung tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự
Để xác định chính xác trách nhiệm hình sự, phải căn cứ vào số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc, hành vi thực tế, nhân thân người thực hiện và các chứng cứ liên quan.
Các bài viết liên quan có thể tham khảo tại Tư vấn luật hình sự – Nhung & Partners . Thông tin của đơn vị cũng được cập nhật tại Facebook Nhung & Partners .
Nội dung bài viết được cung cấp nhằm mục đích tham khảo và phổ biến kiến thức pháp luật , không thay thế cho ý kiến tư vấn pháp lý đối với từng vụ việc cụ thể. Do mỗi vụ việc có tình tiết, tài liệu và chứng cứ khác nhau, việc áp dụng quy định pháp luật và kết quả giải quyết có thể khác nhau. Khi phát sinh vụ việc thực tế, người đọc nên liên hệ trực tiếp với luật sư hoặc người có chuyên môn để được xem xét hồ sơ và tư vấn phù hợp.