Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm xâm phạm quyền sở hữu thường gặp trong thực tế. Hành vi có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức như giả mạo thông tin để vay tiền, bán hàng không có thật, giả danh người khác, đưa ra dự án đầu tư không có thật hoặc sử dụng các thủ đoạn gian dối khiến bị hại tin tưởng giao tiền, tài sản.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp nói dối, không trả tiền hoặc vi phạm hợp đồng đều cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Để truy cứu trách nhiệm hình sự cần xác định đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, trong đó đặc biệt phải làm rõ thủ đoạn gian dối, mối liên hệ giữa thủ đoạn gian dối với việc giao tài sản, mục đích chiếm đoạt, giá trị tài sản và các tình tiết liên quan .
Tội Lừa Đảo Chiếm Đoạt Tài Sản: Dấu Hiệu Cấu Thành Tội Phạm Và Mức Hình Phạt
1. Tội Lừa Đảo ChiếmĐoạt Tài Sản Là Gì?
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự .
Đặc trưng của tội danh này là người thực hiện dùng thủ đoạn gian dối nhằm làm cho người có tài sản tin tưởng và giao tài sản, từ đó chiếm đoạt tài sản của người khác .
Trong thực tế, thủ đoạn gian dối có thể được thể hiện bằng lời nói, giấy tờ, tài liệu, thông tin điện tử hoặc các phương thức khác nhằm tạo ra thông tin không đúng sự thật khiến người có tài sản tin tưởng.
Điểm quan trọng là phải xem xét thời điểm xuất hiện gian dối và mối liên hệ giữa hành vi gian dối với việc người bị hại hoặc chủ tài sản giao tài sản, vì đây là những vấn đề có ý nghĩa trong việc phân biệt tội lừa đảo với các hành vi chiếm đoạt khác.
2. Các Dấu Hiệu Cấu Thành Tội Lừa Đảo Chiếm Đoạt Tài Sản
Để xác định một hành vi có dấu hiệu của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không, cần đánh giá tổng thể các yếu tố cấu thành tội phạm.
Mặt khách quan
Dấu hiệu nổi bật là hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản . Thủ đoạn gian dối phải có mối liên hệ với việc làm cho chủ tài sản hoặc người đang quản lý tài sản tin tưởng và giao tài sản.
Người thực hiện có thể cung cấp thông tin giả, giả mạo danh tính, giả giấy tờ, dựng lên một giao dịch không có thật hoặc sử dụng phương thức khác khiến chủ tài sản tin vào thông tin sai lệch và giao tài sản.
Không phải mọi lời nói không đúng sự thật đều cấu thành lừa đảo. Thông tin gian dối phải được xem xét trong mối quan hệ với hành vi giao tài sản và hành vi chiếm đoạt có mối liên hệ như thế nào.
Mặt chủ quan
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý. Khi giải quyết vụ án, một trong những vấn đề quan trọng là làm rõ ý thức và mục đích chiếm đoạt tài sản của người thực hiện.
Khách thể
Hành vi lừa đảo xâm phạm quyền sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ.
Chủ thể
Người thực hiện hành vi phải đáp ứng điều kiện về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
3. Thủ Đoạn Gian Dối Trong Tội Lừa Đảo Được Hiểu Như Thế Nào?
Thủ đoạn gian dối có thể hiểu là việc người thực hiện đưa ra thông tin không đúng sự thật hoặc che giấu sự thật nhằm làm người khác tin tưởng để giao tài sản .
Ví dụ, một người không có quyền sở hữu đối với một bất động sản nhưng làm giả tài liệu và tự nhận là chủ sở hữu để nhận tiền đặt cọc. Nếu chứng minh được ngay từ đầu người này sử dụng thông tin gian dối với mục đích chiếm đoạt tiền thì hành vi có thể được xem xét theo Điều 174.
Trong môi trường trực tuyến, thủ đoạn gian dối còn có thể được thực hiện thông qua tài khoản mạng xã hội, website, ứng dụng hoặc các phương tiện điện tử khác.
Tuy nhiên, việc có sử dụng Internet không đồng nghĩa đương nhiên áp dụng Điều 174 . Cần xem xét phương thức thực hiện cụ thể, mối liên hệ giữa hành vi gian dối và việc giao tài sản, đồng thời đối chiếu các quy định hình sự khác có liên quan.
4. Lừa Đảo Bao Nhiêu Tiền Thì Bị Truy Cứu Trách Nhiệm Hình Sự?
Theo khoản 1 Điều 174, mốc giá trị tài sản cơ bản cần lưu ý là:
Từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.
Nếu một người dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2 triệu đồng và hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 174, trừ trường hợp thuộc khung khác do có tình tiết định khung.
Tuy nhiên, tài sản dưới 2 triệu đồng vẫn có thể làm phát sinh trách nhiệm hình sự nếu thuộc trường hợp đặc biệt mà khoản 1 Điều 174 quy định.
Các trường hợp này gồm: người thực hiện đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt mà còn vi phạm; đã bị kết án về các tội mà Điều 174 viện dẫn, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
5. Lừa Đảo Dưới 2 Triệu Đồng Có Phạm Tội Không?
Có thể , nếu hành vi thuộc một trong các trường hợp luật định tại khoản 1 Điều 174.
Do đó, không nên hiểu rằng:
“Lừa đảo dưới 2 triệu đồng thì chắc chắn không bị xử lý hình sự.”
Ngược lại, cũng không thể chỉ căn cứ vào việc tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên để kết luận một người phạm tội. Cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải chứng minh thủ đoạn gian dối, mục đích chiếm đoạt và các yếu tố cấu thành tội phạm khác .
6. Mức Hình Phạt Tội Lừa Đảo Chiếm Đoạt Tài Sản
Điều 174 quy định nhiều khung hình phạt tùy thuộc vào giá trị tài sản và các tình tiết định khung.
Khung
Một trong các trường hợp về giá trị tài sản
Hình phạt chính
Khoản 1
Từ 2 triệu đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 2 triệu nhưng thuộc trường hợp luật định
Cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc tù từ 06 tháng đến 03 năm
Khoản 2
Từ 50 triệu đến dưới 200 triệu đồng
Tù từ 02 năm đến 07 năm
Khoản 3
Từ 200 triệu đến dưới 500 triệu đồng
Tù từ 07 năm đến 15 năm
Khoản 4
Từ 500 triệu đồng trở lên
Tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân
Cần lưu ý bảng trên thể hiện các mốc giá trị tài sản tiêu biểu . Việc xác định khung hình phạt không chỉ căn cứ vào số tiền mà còn phải xem xét các tình tiết định khung khác tại Điều 174.
7. Những Trường Hợp Có Thể Bị Phạt Từ 02 Đến 07 Năm Tù
Khoản 2 Điều 174 quy định mức hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù đối với các trường hợp luật định.
Bên cạnh trường hợp chiếm đoạt tài sản từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng , khoản 2 còn quy định các tình tiết như có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc danh nghĩa cơ quan, tổ chức, dùng thủ đoạn xảo quyệt và những trường hợp khác theo quy định.
Vì vậy, số tiền chiếm đoạt dưới 50 triệu đồng không đồng nghĩa trong mọi trường hợp chỉ áp dụng khoản 1 Điều 174. Nếu có tình tiết định khung thuộc khoản 2, hành vi có thể bị xử lý theo khoản này.
8. Lừa Đảo Từ 200 Triệu Đồng Trở Lên Bị Phạt Thế Nào?
Nếu tài sản bị chiếm đoạt trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng , đây là một trong những trường hợp thuộc khoản 3 Điều 174, với hình phạt:
Từ 07 năm đến 15 năm tù.
Nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên , hành vi thuộc một trong các trường hợp tại khoản 4 Điều 174, với khung hình phạt:
Từ 12 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân.
Ngoài giá trị tài sản, Điều 174 còn quy định các tình tiết định khung khác. Vì vậy, việc xác định khoản áp dụng và mức hình phạt cụ thể phải dựa trên toàn bộ hồ sơ, chứng cứ và các tình tiết của vụ án.
9. Tội Lừa Đảo Có Thể Bị Phạt Tiền Không?
Ngoài hình phạt chính, người phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn có thể chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 174.
Theo khoản 5 Điều 174, người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm; hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản .
Việc áp dụng hình phạt bổ sung phụ thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi và quyết định của Tòa án trong từng vụ án; không phải mọi trường hợp phạm tội đều đương nhiên áp dụng tất cả các hình phạt bổ sung.
10. Phân Biệt Lừa Đảo Chiếm Đoạt Tài Sản Với Lạm Dụng Tín Nhiệm
Đây là hai tội danh thường bị nhầm lẫn.
Đối với lừa đảo chiếm đoạt tài sản , thủ đoạn gian dối có vai trò làm cho người bị hại hoặc chủ tài sản tin tưởng và giao tài sản.
Trong khi đó, đối với lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản , người thực hiện ban đầu nhận tài sản thông qua vay, mượn, thuê hoặc hình thức hợp đồng một cách hợp pháp, sau đó thực hiện một trong các hành vi chiếm đoạt được Điều 175 Bộ luật Hình sự quy định.
Ví dụ, nếu ngay từ đầu một người đưa thông tin giả về một tài sản không tồn tại để người mua chuyển tiền thì có thể có dấu hiệu lừa đảo. Trong khi một người nhận tài sản hợp pháp theo quan hệ thuê, vay, mượn rồi sau đó thực hiện hành vi thuộc Điều 175 thì cần xem xét theo tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Việc xác định tội danh phải dựa trên bản chất và toàn bộ diễn biến vụ việc.
11. Không Thực Hiện Đúng Hợp Đồng Có Phải Lừa Đảo Không?
Không phải mọi trường hợp vi phạm hợp đồng đều là Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Trong giao dịch mua bán, vay tài sản, đầu tư hoặc hợp tác kinh doanh, một bên có thể không thực hiện được nghĩa vụ vì thua lỗ, khó khăn tài chính hoặc nguyên nhân khách quan. Những tình huống này không đương nhiên chứng minh người đó có ý định chiếm đoạt ngay từ đầu.
Để xác định dấu hiệu lừa đảo, cần làm rõ người đó có sử dụng thủ đoạn gian dối để làm bên còn lại tin tưởng và giao tài sản hay không, thủ đoạn gian dối xuất hiện vào thời điểm nào và người đó có mục đích chiếm đoạt hay không.
Việc phân biệt này có ý nghĩa quan trọng nhằm tránh hình sự hóa một quan hệ vốn có bản chất dân sự hoặc kinh doanh thương mại, đồng thời không bỏ sót trường hợp giao dịch chỉ là hình thức che giấu hành vi chiếm đoạt từ đầu.
12. Lừa Đảo Qua Facebook, Zalo Có Bị Xử Lý Theo Điều 174 Không?
Có thể, tùy bản chất hành vi và điều luật phù hợp.
Ví dụ, một người giả mạo tài khoản của người quen, đưa ra thông tin gian dối khiến bị hại tin tưởng chuyển tiền thì có thể bị xem xét về hành vi chiếm đoạt tài sản nếu đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của Điều 174.
Tuy nhiên, đối với hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử, còn cần xem xét Điều 290 Bộ luật Hình sự và các quy định liên quan để xác định chính xác tội danh. Điều 290 có phạm vi áp dụng riêng và đặt ra trường hợp loại trừ khi hành vi thuộc Điều 173 hoặc Điều 174.
Do đó, không nên mặc nhiên kết luận rằng cứ lừa đảo thông qua mạng xã hội là áp dụng Điều 174. Tội danh phải được xác định trên cơ sở phương thức thực hiện và toàn bộ dấu hiệu cấu thành của hành vi.
13. Đã Trả Lại Tiền Cho Bị Hại Có Còn Bị Xử Lý Hình Sự Không?
Có thể vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nếu hành vi trước đó đã đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì việc trả lại tiền sau đó không làm trách nhiệm hình sự tự động chấm dứt.
Tuy nhiên, theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự , người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả có thể được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Việc đánh giá mức độ giảm nhẹ còn phải căn cứ vào tính chất, mức độ và kết quả thực tế của việc khắc phục hậu quả.
Vì vậy, cần phân biệt rõ giữa khắc phục hậu quả để được xem xét giảm nhẹ và việc được miễn trách nhiệm hình sự hoặc đình chỉ vụ án.
14. Bị Hại Rút Đơn Có Được Đình Chỉ Vụ Án Không?
Không phải mọi vụ án hình sự đều được khởi tố theo yêu cầu của bị hại.
Đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Điều 174 Bộ luật Hình sự không thuộc nhóm tội được liệt kê tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự về khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại. Do đó, việc bị hại đã nhận lại tiền, có đơn “bãi nại” hoặc đề nghị không xử lý không làm vụ án lừa đảo đương nhiên được đình chỉ theo cơ chế tại Điều 155.
Tuy nhiên, việc khắc phục hậu quả, bồi thường và ý kiến xin giảm nhẹ của bị hại vẫn có thể được cơ quan tiến hành tố tụng và Tòa án xem xét theo các quy định pháp luật tương ứng.
15. Tội Lừa Đảo Chiếm Đoạt Tài Sản Có Được Hưởng Án Treo Không?
Việc phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không đồng nghĩa đương nhiên được hoặc không được hưởng án treo.
Án treo chỉ được xem xét theo Điều 65 Bộ luật Hình sự và các quy định hướng dẫn có liên quan. Người bị xử phạt tù chỉ được xem xét cho hưởng án treo khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định, trong đó có các điều kiện về mức hình phạt, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và các điều kiện khác theo quy định.
Việc phạm tội lần đầu, trả lại toàn bộ tiền hoặc được bị hại xin giảm nhẹ là những yếu tố có thể cần xem xét, nhưng không đồng nghĩa chắc chắn được hưởng án treo .
16. Kết Luận
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có dấu hiệu đặc trưng là việc sử dụng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác . Trong trường hợp thông thường, mốc giá trị tài sản cần lưu ý là từ 2 triệu đồng , nhưng dưới 2 triệu đồng vẫn có thể bị truy cứu nếu thuộc các trường hợp được khoản 1 Điều 174 quy định.
Tùy theo giá trị tài sản và tình tiết định khung, người phạm tội có thể bị cải tạo không giam giữ đến 03 năm, phạt tù từ 06 tháng và mức hình phạt cao nhất theo Điều 174 là bị phạt đến 20 năm tù hoặc tù chung thân .
Đặc biệt, khi đánh giá một vụ việc cần làm rõ thủ đoạn gian dối xuất hiện vào thời điểm nào, bị hại giao tài sản vì lý do gì và người thực hiện có mục đích chiếm đoạt hay không . Đây là những yếu tố quan trọng để phân biệt hành vi lừa đảo với lạm dụng tín nhiệm hoặc tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại thông thường.
Người có vụ việc cụ thể có thể tham khảo Tư vấn luật hình sự – Nhung & Partners .
Các thông tin pháp lý khác của Nhung & Partners được cập nhật tại Facebook Nhung & Partners .
Nội dung bài viết mang tính chất tham khảo chung, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý cho từng vụ việc cụ thể. Việc xác định tội danh, khoản áp dụng và mức hình phạt phải căn cứ vào hồ sơ, chứng cứ và quy định pháp luật đang có hiệu lực tại thời điểm giải quyết vụ án.