Lừa đảo qua mạng ngày càng xuất hiện dưới nhiều hình thức như giả danh cơ quan, tổ chức; lập tài khoản mạng xã hội giả; giả mạo người quen để vay tiền; bán hàng nhưng không giao hàng; tạo website, ứng dụng hoặc đường link giả để chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, không phải cứ có yếu tố Internet là mọi vụ việc đều được xử lý theo cùng một tội danh.
Vậy lừa đảo qua mạng bị xử lý như thế nào? Bao nhiêu tiền thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự? Mức phạt có thể lên đến bao nhiêu năm tù? Để xác định chính xác cần căn cứ vào thủ đoạn, phương thức sử dụng công nghệ và cách thức người phạm tội chiếm đoạt tài sản.
Lừa Đảo Qua Mạng Bị Xử Lý Như Thế Nào? Mức Phạt Theo Quy Định Hình Sự
Lừa Đảo Qua Mạng ngày càng xuất hiện dưới nhiều hình thức như giả danh người quen, giả danh công an, ngân hàng, lập tài khoản mạng xã hội giả, bán hàng không có thật, tạo website hoặc đường link giả để chiếm đoạt tiền.
Tuy nhiên, không phải cứ hành vi lừa đảo được thực hiện qua Internet thì đều áp dụng cùng một tội danh. Tùy thủ đoạn và cách thức chiếm đoạt, hành vi có thể bị xem xét về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 hoặc các tội danh khác của Bộ luật Hình sự , trong đó có Điều 290 về sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
1. Lừa Đảo Qua Mạng Là Gì?
Lừa Đảo Qua Mạng là cách gọi phổ biến đối với hành vi sử dụng Internet, mạng xã hội, ứng dụng nhắn tin, website, email hoặc phương tiện điện tử để đưa ra thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản.
Các hình thức thường gặp gồm giả mạo tài khoản Facebook, Zalo để vay tiền; bán hàng không có thật; thông báo trúng thưởng; giả danh nhân viên ngân hàng; Giả danh công an hoặc cơ quan nhà nước; gửi đường link giả để lấy thông tin tài khoản hoặc tạo ứng dụng đầu tư giả để yêu cầu người tham gia chuyển tiền.
Điểm quan trọng là phải xác định thủ đoạn gian dối và cách thức chiếm đoạt , không chỉ dựa vào việc hành vi được thực hiện trên mạng.
2. Khi Nào Lừa Đảo Qua Mạng Có Thể Là Tội Lừa Đảo Chiếm Đoạt Tài Sản?
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Dấu hiệu đặc trưng là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin vào thông tin không đúng sự thật và tự giao tài sản, sau đó người phạm tội chiếm đoạt tài sản đó.
Ví dụ, một người lập tài khoản Facebook giả danh người quen của bị hại, nói đang gặp việc gấp và yêu cầu chuyển tiền. Bị hại tin tưởng nên chuyển tiền. Nếu chứng minh được thủ đoạn gian dối và mục đích chiếm đoạt thì hành vi có thể bị xem xét về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản .
Điều 174 hiện quy định mức cơ bản từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; dưới 2.000.000 đồng vẫn có thể bị truy cứu nếu thuộc các trường hợp đặc biệt được điều luật quy định.
3. Khi Nào Lừa Đảo Qua Mạng Có Thể Bị Xử Lý Theo Điều 290 Bộ Luật Hình Sự?
Điều 290 Bộ luật Hình sự quy định Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
Điều luật này áp dụng đối với những hành vi công nghệ cụ thể như sử dụng trái phép thông tin tài khoản, thẻ ngân hàng để chiếm đoạt tiền; sử dụng thẻ ngân hàng giả; truy cập bất hợp pháp vào tài khoản hoặc thực hiện các hành vi công nghệ khác thuộc phạm vi của Điều 290.
Do đó, không nên hiểu rằng cứ lừa đảo qua Facebook, Zalo hoặc Internet thì mặc nhiên áp dụng Điều 290. Cần xác định chính xác công nghệ được sử dụng như thế nào để thực hiện hành vi chiếm đoạt.
4. Lừa Đảo Qua Mạng Bao Nhiêu Tiền Thì Bị Khởi Tố?
Nếu hành vi được xử lý theo Điều 174 Bộ luật Hình sự thì mức tài sản cơ bản cần lưu ý là từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng .
Trường hợp tài sản dưới 2.000.000 đồng vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu người thực hiện đã từng bị xử phạt hoặc kết án về hành vi chiếm đoạt mà chưa được xóa án tích, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc tài sản thuộc trường hợp đặc biệt do Điều 174 quy định.
Vì vậy, quan niệm “lừa đảo dưới 2 triệu đồng thì chắc chắn không bị khởi tố” là chưa chính xác.
5. Mức Phạt Tội Lừa Đảo Chiếm Đoạt Tài Sản Qua Mạng
Nếu hành vi đủ dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự thì hình phạt được xác định theo giá trị tài sản và các tình tiết định khung.
Chiếm đoạt từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng
Khoản 1 Điều 174 quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Chiếm đoạt từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng
Đây là một trong các trường hợp thuộc khoản 2 Điều 174, có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù .
Ngoài giá trị tài sản, các tình tiết như có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ hoặc danh nghĩa cơ quan, tổ chức và dùng thủ đoạn xảo quyệt cũng có thể ảnh hưởng đến khung hình phạt.
Chiếm đoạt từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng
Khoản 3 Điều 174 quy định khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù .
Chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên
Khoản 4 Điều 174 quy định khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân .
Như vậy, mức phạt đối với Lừa Đảo Qua Mạng có thể rất nghiêm khắc nếu giá trị tài sản lớn hoặc có các tình tiết định khung khác.
6. Dùng Internet Để Lừa Đảo Có Tự Động Bị Tăng Hình Phạt Không?
Không.
Việc sử dụng Facebook, Zalo, Messenger hoặc một nền tảng trực tuyến không tự động làm tăng khung hình phạt.
Cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét Internet chỉ là phương tiện liên lạc hay cách thức sử dụng công nghệ đã thuộc một tình tiết định khung hoặc cấu thành của tội danh khác.
Do đó, cần phân biệt giữa lừa đảo sử dụng Internet làm phương tiện và hành vi sử dụng công nghệ để trực tiếp chiếm đoạt tài sản .
7. Giả Danh Công An Để Lừa Chuyển Tiền Bị Xử Lý Thế Nào?
Giả danh công an là một trong những thủ đoạn Lừa Đảo Qua Mạng thường gặp.
Người thực hiện có thể gọi điện, nhắn tin hoặc liên hệ qua ứng dụng, tự xưng là Công an, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc cơ quan khác, sau đó thông báo bị hại liên quan đến một vụ án và yêu cầu chuyển tiền để “xác minh”, “phong tỏa” hoặc “chứng minh tài sản”.
Nếu thông tin gian dối làm bị hại tin tưởng, lo sợ và tự chuyển tiền để người thực hiện chiếm đoạt thì hành vi có thể bị xem xét về tội phạm xâm phạm sở hữu tương ứng.
Tội danh cụ thể vẫn phải căn cứ vào phương thức thực hiện, dòng tiền và toàn bộ chứng cứ của vụ án.
8. Hack Facebook Rồi Nhắn Tin Vay Tiền Có Phải Lừa Đảo Qua Mạng Không?
Có thể.
Trường hợp chiếm quyền kiểm soát tài khoản Facebook của người khác, sau đó giả danh chủ tài khoản để nhắn tin cho người thân, bạn bè yêu cầu chuyển tiền có thể phát sinh nhiều vấn đề hình sự.
Cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét đồng thời cách thức chiếm quyền tài khoản, hành vi truy cập trái phép, thủ đoạn gian dối và cách thức chiếm đoạt tiền.
Vì vậy, không nên chỉ dựa vào cách gọi “hack Facebook lừa đảo” để xác định ngay một tội danh.
9. Lừa Bán Hàng Online Nhưng Không Giao Hàng Có Phạm Tội Không?
Không phải mọi trường hợp người bán nhận tiền nhưng không giao hàng đúng hạn đều cấu thành tội phạm.
Nếu có giao dịch mua bán thật nhưng sau đó phát sinh tranh chấp về chất lượng, thời hạn giao hàng hoặc nghĩa vụ hoàn tiền thì cần xác định bản chất quan hệ giữa các bên.
Ngược lại, nếu ngay từ đầu người bán không có hàng nhưng đưa thông tin gian dối nhằm làm người mua tin tưởng và chuyển tiền để chiếm đoạt thì có thể có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản .
Điểm quan trọng là phải chứng minh ý định chiếm đoạt và thủ đoạn gian dối, không chỉ dựa vào việc người mua chưa nhận được hàng.
10. Chuyển Tiền Đầu Tư Online Nhưng Không Rút Được Có Phải Lừa Đảo Không?
Không phải cứ đầu tư thua lỗ hoặc không rút được tiền thì đương nhiên là Lừa Đảo Qua Mạng.
Cần xác định nền tảng đầu tư có thật hay không, thông tin được cung cấp trước khi người tham gia chuyển tiền, người nhận tiền là ai, dòng tiền được sử dụng như thế nào và có thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt hay không.
Nếu website hoặc ứng dụng được tạo với số dư, lợi nhuận hoặc giao dịch giả để dụ người tham gia tiếp tục nộp tiền rồi chiếm đoạt thì đây là những dấu hiệu quan trọng cần được xác minh.
11. Bị Lừa Đảo Qua Mạng Cần Giữ Những Chứng Cứ Gì?
Khi phát hiện có dấu hiệu bị Lừa Đảo Qua Mạng, người bị hại nên giữ nguyên các dữ liệu liên quan và hạn chế xóa hoặc chỉnh sửa thông tin.
Các tài liệu quan trọng có thể gồm tin nhắn, lịch sử cuộc gọi, email, thông tin tài khoản mạng xã hội, địa chỉ website, số điện thoại, số tài khoản ngân hàng nhận tiền, chứng từ chuyển khoản, nội dung quảng cáo và thông tin trao đổi giữa các bên.
Các tài liệu này giúp cơ quan có thẩm quyền xác minh thủ đoạn gian dối, dòng tiền và người có liên quan.
12. Người Lừa Đảo Đã Trả Lại Tiền Có Còn Bị Xử Lý Không?
Người Lừa Đảo Đã Trả Lại Tiền Có Còn Bị Xử Lý Không?
Câu trả lời là có thể vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự .
Nếu trước thời điểm trả lại tiền, hành vi đã đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì việc hoàn trả tài sản không làm trách nhiệm hình sự tự động chấm dứt.
Tuy nhiên, việc người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Vì vậy, việc trả lại tiền có thể được xem xét khi quyết định hình phạt nhưng không nên hiểu rằng “trả đủ tiền thì sẽ không còn bị xử lý hình sự”.
13. Bị Hại Rút Đơn Thì Vụ Án Lừa Đảo Qua Mạng Có Đình Chỉ Không?
Bị Hại Rút Đơn Thì Vụ Án Lừa Đảo Qua Mạng Có Đình Chỉ Không?
Không đương nhiên.
Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ quy định khởi tố theo yêu cầu của bị hại đối với một số tội danh cụ thể. Điều 174 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Điều 290 không thuộc danh sách này.
Do đó, nếu hành vi đã có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, việc bị hại rút đơn, đã nhận lại tiền hoặc không còn yêu cầu bồi thường không làm vụ án đương nhiên bị đình chỉ.
Tuy nhiên, việc khắc phục hậu quả và ý kiến xin giảm nhẹ của bị hại có thể được cơ quan tiến hành tố tụng xem xét khi giải quyết vụ án.
14. Câu Hỏi Thường Gặp Về Lừa Đảo Qua Mạng
Lừa đảo online 1 triệu đồng có bị khởi tố không?
Có thể. Nếu hành vi được xem xét theo Điều 174 thì dưới 2 triệu đồng vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thuộc một trong các trường hợp đặc biệt mà khoản 1 Điều 174 quy định.
Lừa đảo qua Facebook 10 triệu đồng bị phạt thế nào?
Nếu hành vi được xác định là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 và không có tình tiết làm thay đổi khung hình phạt thì có thể bị cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Lừa đảo qua mạng 100 triệu đồng bị phạt bao nhiêu năm?
Mức 100 triệu đồng thuộc khoảng từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng, là một trong các trường hợp tại khoản 2 Điều 174, có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù.
Lừa Đảo Qua Mạng có thể bị tù chung thân không?
Có. Nếu hành vi bị xử lý theo Điều 174 và thuộc khoản 4, hình phạt có thể từ 12 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân.
15. Kết Luận
Lừa Đảo Qua Mạng có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức như giả danh người quen, Giả danh công an , giả danh ngân hàng, bán hàng không có thật, tạo website giả, chiếm quyền tài khoản hoặc sử dụng phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản.
Không phải mọi hành vi lừa đảo có yếu tố Internet đều áp dụng cùng một tội danh. Tùy bản chất của hành vi, cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 hoặc các tội danh khác của Bộ luật Hình sự , trong đó có Điều 290.
Nếu áp dụng Điều 174, hình phạt có thể từ cải tạo không giam giữ đến 03 năm và trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có thể đến 20 năm tù hoặc tù chung thân.
Do đó, để xác định một vụ Lừa Đảo Qua Mạng bị xử lý như thế nào, cần xem xét thủ đoạn gian dối, phương thức sử dụng công nghệ, thời điểm phát sinh ý định chiếm đoạt, số tiền bị chiếm đoạt và toàn bộ chứng cứ của vụ việc.
16. Câu Hỏi Thường Gặp Về Lừa Đảo Qua Mạng
Lừa đảo online 1 triệu đồng có bị khởi tố không?
Nếu xem xét theo Điều 174, tài sản dưới 2 triệu đồng vẫn có thể làm phát sinh trách nhiệm hình sự khi thuộc một trong các trường hợp đặc biệt mà điều luật quy định. Không thể chỉ dựa vào số tiền 1 triệu đồng để kết luận.
Lừa đảo qua Facebook 10 triệu đồng bị phạt thế nào?
Nếu hành vi được xác định là Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 và không có tình tiết làm thay đổi khung hình phạt, mức 10 triệu đồng nằm trong khoảng giá trị thuộc cấu thành cơ bản. Khoản 1 Điều 174 quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc tù từ 06 tháng đến 03 năm .
Lừa đảo 100 triệu đồng qua mạng bị phạt bao nhiêu năm?
Giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng là một trong các trường hợp thuộc khoản 2 Điều 174, với khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù . Tuy nhiên, cần kiểm tra các tình tiết khác của vụ án trước khi xác định khoản áp dụng.
Lừa đảo qua mạng có thể bị tù chung thân không?
Có. Nếu hành vi được xử lý theo Điều 174 và thuộc khoản 4, hình phạt có thể là 12 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân .
17. Kết Luận
Lừa đảo qua mạng có thể được thực hiện bằng nhiều phương thức như giả danh người quen, giả mạo cơ quan hoặc ngân hàng, bán hàng không có thật, tạo website giả, chiếm quyền tài khoản hoặc sử dụng các phương tiện điện tử khác để chiếm đoạt tài sản.
Tuy nhiên, không phải mọi hành vi lừa đảo có yếu tố Internet đều áp dụng cùng một tội danh. Tùy bản chất hành vi, cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 hoặc các quy định hình sự khác, trong đó có Điều 290 về hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản .
Nếu áp dụng Điều 174, hình phạt có thể từ cải tạo không giam giữ đến 03 năm, phạt tù từ 06 tháng , và trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có thể lên đến 20 năm tù hoặc tù chung thân .
Điều quan trọng là phải xác định chính xác thủ đoạn gian dối, phương thức sử dụng công nghệ, thời điểm phát sinh ý định chiếm đoạt, giá trị tài sản và toàn bộ chứng cứ của vụ án , thay vì chỉ dựa vào việc hành vi được thực hiện “qua mạng”.
Bạn có vụ việc cụ thể có thể tham khảo Tư vấn luật hình sự – Nhung & Partners .
Thông tin của Nhung & Partners được cập nhật tại Facebook Nhung & Partners .
Bài viết được xây dựng chỉ dựa trên nội dung Bộ luật Hình sự nhằm mục đích tham khảo và phổ biến kiến thức pháp luật. Các hình thức lừa đảo trực tuyến cụ thể, quy trình tố giác, điều tra, thu thập chứng cứ điện tử hoặc các quy định chuyên ngành về an ninh mạng không được tự bổ sung vì không có đầy đủ căn cứ trong tài liệu nguồn. Nội dung không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý đối với một vụ việc cụ thể.