Bị Hại Rút Đơn Yêu Cầu Khởi Tố, Vụ Án Cố Ý Gây Thương Tích Có Được Đình Chỉ Không?
Trong các vụ việc cố ý gây thương tích , sau khi xảy ra xô xát, các bên có thể thỏa thuận bồi thường, hòa giải và người bị hại đồng ý rút yêu cầu khởi tố. Tuy nhiên, một câu hỏi thường gặp là: Bị hại rút đơn thì vụ án cố ý gây thương tích có được đình chỉ không? Nếu đã khởi tố vụ án rồi mới rút yêu cầu thì có còn bị xử lý hình sự không?
Câu trả lời phụ thuộc trước hết vào khoản của Điều 134 Bộ luật Hình sự đang được áp dụng và việc vụ án có thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự hay không.
Đối với tội cố ý gây thương tích, không phải mọi trường hợp bị hại rút yêu cầu khởi tố đều dẫn đến đình chỉ vụ án.
1. Tội Cố Ý Gây Thương Tích Được Quy Định Như Thế Nào?
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự .
Khi xác định trách nhiệm hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng không chỉ xem xét tỷ lệ tổn thương cơ thể mà còn phải đánh giá các tình tiết khác như công cụ, phương thức thực hiện hành vi, đối tượng bị xâm hại, tính chất hành vi và các tình tiết định khung được quy định tại Điều 134.
Theo khoản 1 Điều 134, hành vi gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp luật định có thể bị xử lý về tội cố ý gây thương tích. Các khoản tiếp theo quy định những khung trách nhiệm hình sự khác tùy tỷ lệ tổn thương cơ thể và tình tiết của hành vi. Điều 134 cũng có quy định riêng đối với hành vi chuẩn bị một số công cụ, phương tiện hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích.
Do đó, không thể chỉ dựa vào tỷ lệ thương tích để kết luận vụ án thuộc khoản nào của Điều 134, cũng như không thể chỉ dựa vào tỷ lệ thương tích để xác định việc bị hại rút yêu cầu có làm đình chỉ vụ án hay không.
2. Trường Hợp Nào Cố Ý Gây Thương Tích Chỉ Khởi Tố Khi Bị Hại Yêu Cầu?
Đây là vấn đề quan trọng nhất khi xem xét hậu quả pháp lý của việc rút yêu cầu khởi tố.
Theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự , chỉ những tội danh và khoản luật được điều này liệt kê mới thuộc trường hợp chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại .
Đối với Tội cố ý gây thương tích, trường hợp thuộc khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là trường hợp cần đặc biệt đối chiếu với quy định này. Việc khởi tố vụ án phải có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại trong trường hợp luật định.
Ngược lại, nếu hành vi thuộc khoản 2, khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều 134 thì không thể chỉ dựa vào việc bị hại có yêu cầu hay rút yêu cầu để quyết định việc khởi tố, đình chỉ vụ án.
Vì vậy, trước khi xem xét hậu quả của việc rút yêu cầu khởi tố, cần xác định chính xác hành vi đang được xem xét thuộc khoản nào của Điều 134 Bộ luật Hình sự .
3. Bị Hại Rút Đơn Yêu Cầu Khởi Tố Thì Vụ Án Có Được Đình Chỉ Không?
Có, nhưng phải đáp ứng đúng điều kiện của Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với vụ án thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại, khoản 2 Điều 155 quy định: trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ , trừ trường hợp có căn cứ xác định việc rút yêu cầu trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức.
Như vậy, đối với vụ án cố ý gây thương tích thuộc khoản 1 Điều 134 , nếu người đã yêu cầu khởi tố sau đó tự nguyện rút yêu cầu và không có căn cứ cho rằng việc rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức thì việc rút yêu cầu là căn cứ để đình chỉ vụ án theo quy định tố tụng.
Ngược lại, nếu hành vi không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì việc bị hại rút yêu cầu không làm phát sinh căn cứ đình chỉ theo khoản 2 Điều 155.
4. Đã Khởi Tố Vụ Án Rồi Bị Hại Mới Rút Đơn Thì Sao?
Việc đã có quyết định khởi tố không làm mất quyền rút yêu cầu khởi tố trong trường hợp vụ án thuộc phạm vi Điều 155.
Nếu vụ án cố ý gây thương tích thuộc khoản 1 Điều 134 và đã được khởi tố theo yêu cầu của bị hại, thì sau khi vụ án được khởi tố, người đã yêu cầu vẫn có thể rút yêu cầu. Khi việc rút yêu cầu đáp ứng điều kiện của khoản 2 Điều 155, vụ án phải được đình chỉ.
Tùy vụ án đang ở giai đoạn điều tra, truy tố hay xét xử, việc đình chỉ được thực hiện theo quy định tố tụng tương ứng. Chẳng hạn, Cơ quan điều tra có căn cứ đình chỉ điều tra theo Điều 230; Viện kiểm sát đình chỉ vụ án theo Điều 248; tại giai đoạn xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đình chỉ vụ án theo Điều 282 khi có căn cứ thuộc khoản 2 Điều 155.
Điểm quan trọng không phải chỉ là “đã khởi tố hay chưa” , mà là vụ án có thuộc trường hợp pháp luật quy định phải khởi tố theo yêu cầu của bị hại hay không.
5. Trường Hợp Nào Bị Hại Rút Đơn Nhưng Vụ Án Vẫn Tiếp Tục?
Nếu hành vi cố ý gây thương tích bị xử lý theo các khoản không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại , việc người bị hại rút yêu cầu không phải là căn cứ đình chỉ vụ án.
Ví dụ, nếu qua quá trình kiểm tra, xác minh và điều tra, cơ quan tiến hành tố tụng xác định hành vi thuộc khoản 2 trở lên của Điều 134, thì việc xử lý không phụ thuộc vào việc bị hại có tiếp tục yêu cầu hay không.
Ngoài ra, ngay cả trường hợp vụ án thuộc khoản 1 Điều 134, nếu có căn cứ xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trái với ý muốn của mình do bị ép buộc, cưỡng bức , thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
Do đó, không nên chỉ căn cứ vào việc hai bên đã hòa giải hoặc bị hại đã ký văn bản rút yêu cầu để kết luận vụ án chắc chắn được đình chỉ.
6. Thương Tích Dưới 11% Rút Đơn Có Được Đình Chỉ Không?
Không thể chỉ dựa vào tỷ lệ thương tích dưới 11% để trả lời.
Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định một số trường hợp tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% nhưng vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc các trường hợp luật định, chẳng hạn dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm; dùng a-xít hoặc hóa chất nguy hiểm; có tổ chức; thuê gây thương tích; có tính chất côn đồ hoặc thuộc các trường hợp khác được quy định tại khoản 1 Điều 134.
Vì vậy, khi bị hại rút yêu cầu khởi tố, cần xác định trước tiên:
Hành vi đang bị xem xét thuộc khoản nào của Điều 134 Bộ luật Hình sự?
Nếu thương tích dưới 11% nhưng hành vi vẫn thuộc khoản 1 Điều 134 , thì vụ án có thể thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại và việc rút yêu cầu hợp lệ có thể dẫn đến đình chỉ theo Điều 155.
Ngược lại, nếu hành vi thuộc khoản khác của Điều 134 thì việc rút yêu cầu không đương nhiên làm đình chỉ vụ án.
7. Thương Tích Trên 11% Bị Hại Rút Đơn Có Đình Chỉ Không?
Tương tự, không nên sử dụng riêng tỷ lệ 11% như một ranh giới để kết luận việc rút yêu cầu chắc chắn có hoặc không làm đình chỉ vụ án.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên có thể là căn cứ xác định khung trách nhiệm hình sự theo Điều 134. Tuy nhiên, cần xem xét đồng thời các tình tiết khác của hành vi để xác định chính xác khoản áp dụng.
Trong thực tế, một tỷ lệ tổn thương cơ thể có thể đi kèm những tình tiết khác làm thay đổi căn cứ pháp lý áp dụng. Vì vậy, cần xem kết luận giám định cùng toàn bộ hồ sơ, tài liệu và tình tiết của vụ án , thay vì chỉ nhìn vào một tỷ lệ phần trăm.
8. Bị Hại Rút Đơn Do Bị Ép Buộc, Cưỡng Bức Thì Sao?
Đây là ngoại lệ quan trọng tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự, nếu có căn cứ xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức , thì mặc dù người đó đã rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
Do đó, việc rút đơn phải thể hiện ý chí tự nguyện thực sự của người có quyền yêu cầu. .
Các hành vi đe dọa, gây áp lực hoặc cưỡng ép người bị hại rút yêu cầu không chỉ ảnh hưởng đến giá trị của việc rút yêu cầu mà còn có thể làm phát sinh những vấn đề pháp lý khác và không bảo đảm điều kiện để xử lý việc rút yêu cầu theo cơ chế thông thường.
9. Rút Đơn Rồi Có Được Yêu Cầu Khởi Tố Lại Không?
Về nguyên tắc là không.
Đây cũng là vấn đề người bị hại cần cân nhắc kỹ trước khi rút yêu cầu.
Khoản 3 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại , trừ trường hợp việc rút yêu cầu trước đó là do bị ép buộc, cưỡng bức.
Vì vậy, người bị hại không nên xem việc rút đơn là một thủ tục có thể tùy ý rút rồi nộp lại nhiều lần. Trước khi thực hiện, cần xác định rõ hậu quả pháp lý của việc rút yêu cầu trong vụ án cụ thể.
10. Hai Bên Hòa Giải, Bồi Thường Thì Có Đương Nhiên Đình Chỉ Không?
Không. Hòa giải, bồi thường và rút yêu cầu khởi tố là những vấn đề pháp lý khác nhau.
Một bên có thể đã thanh toán toàn bộ viện phí, bồi thường thiệt hại và hai bên đã đồng ý hòa giải, nhưng điều đó không có nghĩa mọi vụ án cố ý gây thương tích đều phải đình chỉ.
Nếu vụ án thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại và người có quyền yêu cầu thực hiện việc rút yêu cầu hợp lệ thì hậu quả pháp lý được xem xét theo Điều 155.
Nếu vụ án không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại, việc bồi thường và hòa giải có thể có ý nghĩa khi xem xét trách nhiệm dân sự, thái độ khắc phục hậu quả và các tình tiết giảm nhẹ , nhưng không đương nhiên làm chấm dứt vụ án hình sự.
11. Bồi Thường Thiệt Hại Có Được Giảm Nhẹ Hình Phạt Không?
Có thể được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nếu đáp ứng điều kiện pháp luật.
Điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP hướng dẫn rằng mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào sự chủ động, tích cực của người phạm tội và hiệu quả, mức độ của việc sửa chữa, bồi thường hoặc khắc phục hậu quả.
Tuy nhiên, không có quy định chung rằng bồi thường đủ tiền thì chắc chắn được miễn trách nhiệm hình sự hoặc chắc chắn không phải chấp hành hình phạt tù .
Việc quyết định hình phạt phải căn cứ vào toàn bộ tình tiết của vụ án và các quy định pháp luật có liên quan.
12. Bị Hại Có Đơn Xin Giảm Nhẹ Có Ý Nghĩa Gì?
Trong trường hợp vụ án không được đình chỉ, bị hại vẫn có thể thể hiện ý kiến về việc đã được bồi thường, không còn yêu cầu về dân sự hoặc đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng xem xét giảm nhẹ cho người thực hiện hành vi phạm tội.
Cần phân biệt rõ:
Rút yêu cầu khởi tố là vấn đề thuộc cơ chế khởi tố theo yêu cầu của bị hại tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong khi đó, đơn xin giảm nhẹ chủ yếu thể hiện quan điểm của bị hại để cơ quan tiến hành tố tụng và Tòa án xem xét cùng với các tình tiết khác của vụ án.
Vì vậy, đơn xin giảm nhẹ không thay thế cho việc rút yêu cầu khởi tố và cũng không đương nhiên dẫn đến đình chỉ vụ án.
13. Ai Có Quyền Rút Yêu Cầu Khởi Tố?
Việc xác định chủ thể có quyền yêu cầu và rút yêu cầu phải căn cứ vào Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự và tình trạng cụ thể của người bị hại.
Đối với các tội thuộc khoản 1 Điều 134, Điều 155 quy định yêu cầu khởi tố được thực hiện bởi:
Bị hại; hoặc
Người đại diện của bị hại nếu bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
Do đó, không phải bất kỳ người thân nào của bị hại cũng có quyền tự mình rút yêu cầu khởi tố và làm phát sinh hậu quả đình chỉ vụ án.
Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xem xét tư cách của người thực hiện việc rút yêu cầu và tính hợp lệ, tự nguyện của việc rút yêu cầu.
14. Đơn Rút Yêu Cầu Khởi Tố Cần Thể Hiện Nội Dung Gì?
Nếu việc rút yêu cầu được thể hiện bằng văn bản, nội dung nên thể hiện rõ:
Thông tin của người thực hiện việc rút yêu cầu;
Thông tin về vụ việc;
Việc trước đây đã yêu cầu khởi tố;
Ý chí tự nguyện rút yêu cầu khởi tố;
Tình trạng thỏa thuận, bồi thường hoặc giải quyết dân sự giữa các bên nếu có.
Nếu các bên đã thỏa thuận bồi thường, có thể trình bày rõ tình trạng thực hiện nghĩa vụ, nhưng không nên ghi nhận những nội dung không đúng thực tế chỉ nhằm mục đích làm thay đổi việc xử lý vụ án.
Đặc biệt, việc rút yêu cầu phải hoàn toàn tự nguyện, không bị đe dọa, cưỡng ép hoặc ép buộc, bởi nếu có căn cứ xác định việc rút yêu cầu trái với ý muốn của người yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tiếp tục giải quyết vụ án.
15. Ví Dụ Về Việc Bị Hại Rút Đơn
Giả sử A và B xảy ra mâu thuẫn dẫn đến A gây thương tích cho B. Sau đó, B yêu cầu khởi tố và cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi thuộc khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự , tức thuộc trường hợp chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại.
Trong quá trình giải quyết, A tự nguyện bồi thường chi phí điều trị và các bên thỏa thuận được với nhau. Sau đó, B tự nguyện rút yêu cầu khởi tố.
Trong tình huống này, nếu không có căn cứ cho rằng B rút yêu cầu do bị ép buộc hoặc cưỡng bức thì vụ án phải được đình chỉ theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự .
Ngược lại, nếu qua điều tra xác định hành vi thực tế thuộc khoản 2 trở lên của Điều 134 hoặc thuộc trường hợp không áp dụng cơ chế khởi tố theo yêu cầu của bị hại, thì việc B không còn yêu cầu xử lý không đương nhiên làm đình chỉ vụ án.
Ví dụ trên chỉ nhằm minh họa nguyên tắc pháp lý và không đại diện cho kết quả của một vụ án cụ thể.
16. Kết Luận
Vậy bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố, vụ án cố ý gây thương tích có được đình chỉ không?
Câu trả lời là: Có thể phải đình chỉ, nhưng trước hết phải xác định vụ án có thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại hay không. Đối với Tội cố ý gây thương tích, cần đặc biệt đối chiếu khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự với Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự .
Nếu thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu và người có quyền tự nguyện rút yêu cầu , vụ án có thể được đình chỉ theo quy định tố tụng. Ngược lại, nếu hành vi thuộc trường hợp không phụ thuộc vào yêu cầu của bị hại thì việc hòa giải, bồi thường hoặc rút đơn không đương nhiên làm chấm dứt vụ án .
Đặc biệt, nếu có căn cứ xác định bị hại rút yêu cầu do bị ép buộc hoặc cưỡng bức , cơ quan có thẩm quyền vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng theo quy định.
Bạn có vụ việc cụ thể có thể tham khảo Tư vấn luật hình sự – Nhung & Partners .
Các thông tin khác của Nhung & Partners được cập nhật tại Facebook Nhung & Partners .
Xem thêm bài Ai phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm?
Nội dung bài viết mang tính chất tham khảo chung, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý đối với từng vụ việc cụ thể. Việc đình chỉ hay tiếp tục giải quyết vụ án phụ thuộc vào điều khoản khởi tố, kết quả giám định, các tình tiết của hành vi và hồ sơ tố tụng thực tế.