Một trong những câu hỏi thường gặp khi xảy ra hành vi gian dối để lấy tiền, tài sản của người khác là: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao nhiêu tiền thì bị khởi tố hình sự? Lừa đảo dưới 2 triệu đồng có bị xử lý không?
Theo Điều 174 Bộ luật Hình sự , mốc giá trị tài sản cơ bản cần lưu ý là từ 2.000.000 đồng . Tuy nhiên, đây không phải điều kiện duy nhất. Trong một số trường hợp luật định, người có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới 2 triệu đồng vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự
1. Tội Lừa Đảo Chiếm Đoạt Tài Sản Là Gì?
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự .
Dấu hiệu đặc trưng của tội danh này là người thực hiện sử dụng thủ đoạn gian dối nhằm làm người có tài sản tin tưởng và giao tài sản, qua đó thực hiện việc chiếm đoạt.
Trong thực tế, thủ đoạn gian dối có thể thể hiện dưới nhiều hình thức như cung cấp thông tin không đúng sự thật, giả mạo giấy tờ, giả danh người khác hoặc tạo ra thông tin không đúng sự thật khiến chủ tài sản tin tưởng và giao tài sản.
Điểm cần chú ý là phải xem xét mối liên hệ giữa hành vi gian dối, việc giao tài sản và mục đích chiếm hữu . Không phải mọi trường hợp nói dối, vi phạm cam kết hoặc không thực hiện đúng hợp đồng đều đương nhiên cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
2. Lừa Đảo Bao Nhiêu Tiền Thì Bị Khởi Tố Hình Sự?
Theo khoản 1 Điều 174, người bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nếu đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm.
Như vậy, trong trường hợp thông thường, 2 triệu đồng là mốc giá trị tài sản cần đặc biệt lưu ý .
Ví dụ, nếu một người đưa ra thông tin gian dối khiến người khác tin tưởng chuyển 10 triệu đồng và có căn cứ xác định ngay trong quá trình thực hiện hành vi người đó nhằm chiếm đoạt tài sản, hành vi có thể bị xem xét theo Điều 174.
Tuy nhiên, không nên hiểu rằng hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới 2 triệu đồng thì chắc chắn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
3. Lừa Đảo Dưới 2 Triệu Đồng Có Bị Khởi Tố Không?
Có thể.
Khoản 1 Điều 174 quy định trường hợp tài sản dưới 2.000.000 đồng vẫn có thể làm phát sinh trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp luật định, gồm:
Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
Đã bị kết án về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc một trong các tội được Điều 174 viện dẫn, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
Do đó, quan điểm “lừa đảo dưới 2 triệu đồng thì không phạm tội” là chưa chính xác. Việc đánh giá phải căn cứ đúng các trường hợp được Điều 174 quy định tại thời điểm giải quyết vụ án.
4. Lừa Đảo Đúng 2 Triệu Đồng Có Thể Bị Khởi Tố Không?
Có thể.
Khoản 1 Điều 174 quy định giá trị tài sản “từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng” .
Như vậy, nếu tài sản được xác định có giá trị đúng 2 triệu đồng thì đã đạt mức định lượng của cấu thành cơ bản.
Tuy nhiên, giá trị tài sản không phải yếu tố duy nhất. Cơ quan tiến hành tố tụng còn phải làm rõ thủ đoạn gian dối, mục đích chiếm đoạt, quá trình giao nhận tài sản và các yếu tố cấu thành tội phạm khác .
5. Lừa Đảo Dưới 2 Triệu Đồng Không Thuộc Trường Hợp Đặc Biệt Thì Sao?
Nếu giá trị tài sản dưới 2 triệu đồng và không thuộc các trường hợp đặc biệt tại khoản 1 Điều 174 , thì chưa có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ dựa trên định lượng giá trị tài sản đó.
Tuy nhiên, vụ việc vẫn cần được đánh giá theo các quy định pháp luật có liên quan, bao gồm tính chất của hành vi, các tình tiết thực tế và việc hành vi có cấu thành một tội phạm khác hay không.
Đây cũng là lý do khi tiếp nhận một vụ việc, không nên chỉ hỏi “bị lừa bao nhiêu tiền?” mà còn cần xác định người thực hiện trước đó đã bị xử lý về hành vi chiếm đoạt hay chưa và tài sản có thuộc trường hợp đặc biệt mà Điều 174 quy định hay không.
6. Mức Phạt Tội Lừa Đảo Chiếm Đoạt Tài Sản Là Bao Nhiêu?
Điều 174 quy định nhiều khung hình phạt khác nhau tùy thuộc vào giá trị tài sản và các tình tiết định khung:
Khoản 1 Điều 174: Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc tài sản dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc một trong những trường hợp đặc biệt. Người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Khoản 2 Điều 174: Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng. Người phạm tội có thể bị p hạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Ngoài giá trị tài sản, khoản 2 còn quy định các tình tiết định khung khác như có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức, dùng thủ đoạn xảo quyệt. Vì vậy, ngay cả khi số tiền chưa đạt 50 triệu đồng, hành vi vẫn có thể thuộc khoản 2 nếu có tình tiết định khung tương ứng.
Khoản 3 Điều 174: Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. Người phạm tội có thể bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Khoản này còn quy định trường hợp lợi dụng thiên tai, dịch bệnh. Do đó, khi xác định khung hình phạt phải xem xét cả giá trị tài sản và các tình tiết khác của vụ án.
Khoản 4 Điều 174: Chiếm đoạt tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên. Người phạm tội có thể bị phạt tù t ừ 12 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân. Đây là khung hình phạt chính cao nhất đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 174.
7. Tội Lừa Đảo Chiếm Đoạt Tài Sản Có Bị Phạt Tiền Không?
Có thể.
Ngoài hình phạt chính, khoản 5 Điều 174 quy định người phạm tội còn có thể bị:
Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm; hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Đây là hình phạt bổ sung. Việc áp dụng cụ thể phụ thuộc vào từng vụ án và quyết định của Tòa án.
8. Lừa Đảo Nhiều Người, Mỗi Người Dưới 2 Triệu Đồng Thì Sao?
Trường hợp một người thực hiện hành vi gian dối đối với nhiều bị hại, mỗi lần chiếm đoạt một khoản tiền khác nhau, không nên chỉ tách riêng từng khoản tiền rồi kết luận rằng mỗi bị hại mất dưới 2 triệu đồng thì người thực hiện chắc chắn không bị xử lý hình sự.
Cơ quan tiến hành tố tụng cần xác định cụ thể từng hành vi, từng tài sản bị chiếm đoạt, thời điểm thực hiện, mối liên hệ giữa các hành vi, ý chí của người thực hiện và các tình tiết khác để xác định trách nhiệm hình sự.
Tùy tình huống, việc đánh giá có thể liên quan đến nhiều hành vi phạm tội, phạm tội nhiều lần hoặc việc xác định giá trị tài sản của từng hành vi. Vì vậy, không nên tự động cộng hoặc tách các khoản tiền khi chưa làm rõ bản chất vụ việc.
9. Lừa Đảo Nhưng Chưa Nhận Được Tiền Có Bị Xử Lý Không?
Không nên cho rằng chưa nhận được tiền thì chắc chắn không phải chịu trách nhiệm hình sự .
Theo Điều 15 Bộ luật Hình sự, phạm tội chưa đạt là trường hợp người phạm tội cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn. Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.
Do đó, nếu người thực hiện đã bắt đầu thực hiện hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối nhưng việc chiếm đoạt không hoàn thành vì nguyên nhân ngoài ý muốn, cần xem xét trách nhiệm hình sự về trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Ngược lại, nếu người thực hiện mới dừng ở việc chuẩn bị mà chưa bắt đầu thực hiện tội phạm, cần tiếp tục xác định hành vi đang ở giai đoạn nào và Điều 14 có quy định trách nhiệm hình sự đối với việc chuẩn bị tội phạm trong trường hợp đó hay không.
10. Đã Trả Lại Tiền Sau Khi Lừa Đảo Có Còn Bị Khởi Tố Không?
Việc trả lại tiền không đồng nghĩa trách nhiệm hình sự tự động chấm dứt.
Nếu hành vi trước đó đã đáp ứng đầy đủ dấu hiệu cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì việc hoàn trả tiền sau đó không làm hành vi đã thực hiện đương nhiên mất tính chất tội phạm.
Tuy nhiên, nếu người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả , đây có thể là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Việc áp dụng tình tiết này được xem xét theo các điều kiện và hướng dẫn có liên quan.
Do đó, cần phân biệt giữa việc xác định có phạm tội hay không và việc xem xét các tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt .
11. Bị Hại Rút Đơn Thì Có Còn Bị Khởi Tố Không?
Có. Không nên hiểu rằng người bị hại rút đơn thì mọi vụ việc lừa đảo đều phải chấm dứt.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 174 không thuộc nhóm tội chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì vậy, nếu hành vi có đủ dấu hiệu của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, việc bị hại nhận lại tiền, không còn yêu cầu bồi thường hoặc có đơn xin giảm nhẹ không làm phát sinh căn cứ đình chỉ vụ án theo cơ chế khởi tố theo yêu cầu của bị hại.
Ý kiến của bị hại và việc người phạm tội khắc phục hậu quả có thể được xem xét theo các căn cứ pháp luật tương ứng, nhưng không đương nhiên làm chấm dứt trách nhiệm hình sự.
12. Phân Biệt Lừa Đảo Chiếm Đoạt Tài Sản Và Tranh Chấp Dân Sự
Không phải mọi trường hợp nhận tiền rồi không thực hiện đúng cam kết đều là lừa đảo.
Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với các tranh chấp đặt cọc, vay tiền, đầu tư, mua bán hàng hóa hoặc hợp tác kinh doanh.
Để xem xét Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cần làm rõ thủ đoạn gian dối đã xuất hiện như thế nào, vào thời điểm nào và có nhằm làm người có tài sản tin tưởng giao tài sản để chiếm đoạt hay không.
Ví dụ, một bên ký hợp đồng kinh doanh có thật nhưng sau đó gặp khó khăn, không thể thực hiện nghĩa vụ có bản chất khác với trường hợp ngay từ đầu đưa ra thông tin giả nhằm làm đối tác tin tưởng chuyển tiền để chiếm đoạt. Trường hợp tài sản ban đầu được giao một cách hợp pháp thông qua vay, mượn, thuê hoặc hợp đồng rồi sau đó người nhận tài sản thực hiện hành vi thuộc các trường hợp của Điều 175 thì cần xem xét dấu hiệu của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Việc xác định đúng dấu hiệu của các tội chiếm đoạt có ý nghĩa quan trọng để tránh hình sự hóa các quan hệ dân sự, kinh tế khi chưa có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội.
13. Kết Luận
Vậy lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao nhiêu tiền thì bị khởi tố hình sự?
Theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự, mốc giá trị cơ bản là từ 2.000.000 đồng . Tuy nhiên, tài sản dưới 2.000.000 đồng vẫn có thể làm phát sinh trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong những trường hợp đặc biệt được khoản 1 Điều 174 quy định.
Tùy giá trị tài sản và các tình tiết định khung, người phạm tội có thể bị cải tạo không giam giữ đến 03 năm, phạt tù từ 06 tháng và trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có thể bị phạt đến 20 năm tù hoặc tù chung thân.
Quan trọng hơn, số tiền không phải yếu tố duy nhất để xác định Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản . Cần làm rõ thủ đoạn gian dối, mục đích chiếm đoạt, thời điểm thực hiện hành vi và mối quan hệ giữa hành vi gian dối với việc bị hại giao tài sản.
Các nội dung pháp lý khác được cập nhật tại Facebook Nhung & Partners .
Nội dung bài viết mang tính chất tham khảo chung, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý đối với từng vụ việc cụ thể. Việc xác định có đủ căn cứ khởi tố, tội danh và khung hình phạt phải dựa trên hồ sơ, chứng cứ và quy định pháp luật đang có hiệu lực tại thời điểm giải quyết vụ án.