Trong dân gian vẫn thường lưu truyền câu nói “Án tại hồ sơ” hay “Trọng chứng hơn trọng cung”. Khi xảy ra tranh chấp, dù bạn tin chắc chắn 100% rằng mình đúng và bị oan, nhưng nếu ra Tòa mà chỉ nói suông, không có tài liệu hay bằng chứng cụ thể thì Thẩm phán cũng không thể bảo vệ bạn. Vậy theo quy định của pháp luật hiện hành, nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự thuộc về ai? Người đi kiện phải tự tìm chứng cứ hay Tòa án sẽ đi tìm giúp? Trong trường hợp người lao động đi kiện công ty mà toàn bộ giấy tờ công ty đang giữ thì phải làm sao? Hãy cùng Luật sư của Nhung & Partners đi tìm câu trả lời chính xác nhất dựa trên Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
1. Nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự: Nguyên tắc “Ai yêu cầu, người đó phải chứng minh”
Trong một vụ án hình sự, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan điều tra và Viện kiểm sát. Tuy nhiên, trong tố tụng dân sự, mối quan hệ giữa các bên là quan hệ bình đẳng. Tòa án đóng vai trò là trọng tài trung lập, không đứng về phe nào và cũng không có nghĩa vụ phải đi tìm kiếm chứng cứ để bênh vực cho ai.
Chính vì vậy, nguyên tắc cốt lõi về nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự được quy định tại phần đầu khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 như sau:
Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp .
Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp .
💡 Bình luận từ Luật sư:
Nói một cách dễ hiểu, nếu bạn (Nguyên đơn) kiện đòi người khác trả nợ 500 triệu, bạn phải cung cấp cho Tòa án hợp đồng vay mượn, giấy biên nhận tiền, tin nhắn xác nhận nợ… Bạn không thể nói với Thẩm phán rằng: “Nó nợ tôi rõ ràng, Tòa cứ đi điều tra là biết”. Trách nhiệm thu thập và nộp chứng cứ trước tiên hoàn toàn thuộc về bạn.
2. Bị đơn có nghĩa vụ chứng minh khi phản đối yêu cầu không?
Rất nhiều Bị đơn khi ra Tòa thường mang tâm lý “mình bị kiện thì mình cứ im lặng, kệ Nguyên đơn tự chứng minh”. Đây là một sai lầm chết người.
Pháp luật quy định, đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó .
Nghĩa là, nếu Nguyên đơn nộp hợp đồng vay tiền và kiện đòi nợ, Bị đơn lên tiếng phản đối: “Tôi đã trả hết số tiền này vào tháng trước rồi”. Lúc này, Bị đơn có nghĩa vụ phải cung cấp Ủy nhiệm chi, biên lai chuyển khoản hoặc giấy xác nhận đã nhận tiền của Nguyên đơn để chứng minh cho sự phản đối của mình. Nếu chỉ cãi miệng mà không có chứng cứ, Tòa án sẽ bác bỏ sự phản đối đó.
3. Các trường hợp ngoại lệ: “Đảo ngược” nghĩa vụ chứng minh
Mặc dù nguyên tắc chung là “ai yêu cầu người đó chứng minh” , nhưng trên thực tế có những mối quan hệ mà vị thế của hai bên rất chênh lệch (ví dụ: Công ty và người lao động; Doanh nghiệp và người tiêu dùng). Để bảo vệ những người yếu thế, Điều 91 đặt ra các ngoại lệ đặc biệt về nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự , buộc bên bị kiện phải chứng minh mình “trong sạch”.
Ngoại lệ 1: Áp dụng cho người tiêu dùng
Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ .
Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng .
Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng .
Ngoại lệ 2: Áp dụng cho người lao động trong vụ án lao động
Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì ng ười sử dụng lao động có trách nhi ệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án.
Đặc biệt, nếu người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động .
Ngoại lệ 3: Các trường hợp đặc thù khác
Các tr ường hợp pháp luật có quy định khác về nghĩa vụ chứng minh . (Ví dụ: Trong một số vụ án môi trường, doanh nghiệp xả thải phải chứng minh mình tuân thủ tiêu chuẩn, chứ không phải người dân phải đi đo đạc hóa chất).
4. Hậu quả pháp lý khi không hoàn thành nghĩa vụ chứng minh
Tòa án xét xử dựa trên chứng cứ thực tế nằm trong bộ hồ sơ vụ án. Điều này dẫn đến một hậu quả pháp lý vô cùng nghiêm khắc được qu y định t ại khoản 4 Điều 91:
Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc .
Nghĩa là, nếu bạn không chứng minh được, hoặc chứng minh nửa vời, Tòa án vẫn sẽ đưa vụ án ra xét xử nhưng sẽ chỉ dựa trên những gì đang có trên bàn của Thẩm phán. Hệ quả tất yếu là yêu cầu của bạn sẽ bị Tòa án bác bỏ và bạn sẽ bị xử thua kiện.
5. Dịch vụ hỗ trợ thu thập chứng cứ và bảo vệ quyền lợi tại Nhung & Partners
Quá trình tham gia tố tụng bản chất là một cuộc chiến về chứng cứ. Tuy nhiên, việc tự mình tìm kiếm, sao lục tài liệu hoặc yêu cầu cơ qua n nhà nước (cơ quan thuế, công an, ngân hàng…) cung cấp thông tin là một thách thức cực kỳ lớn đối với người dân.
Hiểu được nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự là gánh nặng lớn nhất của khách hàng, đội ngũ Luật sư tại Nhung & Partners sẵn sàng đồng hành cùng bạn để tháo gỡ mọi rào cản. Chúng tôi cung cấp dịch vụ pháp lý trọn gói bao gồm:
Đánh giá toàn diện hồ sơ, lọc ra những “chứng cứ vàng” mang tính chất quyết định để giao nộp cho Tòa án.
Thay mặt khách hàng tiến hành điều tra, xác minh, kiến nghị Tòa án ra quyết định buộc các cá nhân, tổ chức (Ngân hàng, Phòng Tài nguyên và Môi trường…) đang lưu giữ tài liệu phải cung cấp chứng cứ cho vụ án.
Tham gia tranh luận sắc bén tại phiên tòa, đối đáp để vạch trần sự gian dối hoặc phản bác lại chứng cứ của đối phương.
Hãy để gánh nặng chứng minh sự thật cho các chuyên gia pháp lý. Liên hệ ngay với Nhung & Partners để được tư vấn chiến lược khởi kiện và thu thập chứng cứ hiệu quả nhất!
Đừng ngần ngại liên hệ với chúng tôi để được tư vấn.
Công ty Luật Nhung & Partners
Địa chỉ: 363 Nguyễn Trãi, Phường Cầu Ông Lãnh, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam
Điện thoại: 090 9988 771
Hoặc Theo dõi Fanpage Nhung-Partners để cập nhật những thông tin pháp lý mới nhất.