Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, tài liệu, chứng cứ là căn cứ quan trọng để Tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án và đưa ra phán quyết đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế không ít trường hợp người khởi kiện hoặc đương sự không thể tự mình thu thập được các tài liệu đang do cơ quan nhà nước, ngân hàng, doanh nghiệp hoặc cá nhân khác quản lý, lưu giữ.
Vậy khi cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân không cung cấp tài liệu, chứng cứ thì đương sự phải làm gì? Tòa án có quyền yêu cầu cung cấp hay không? Nếu cơ quan, tổ chức vẫn không thực hiện thì sẽ bị xử lý như thế nào?
Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định rõ trình tự, thủ tục và trách nhiệm của các bên trong việc yêu cầu và cung cấp tài liệu, chứng cứ. Bài viết dưới đây, Nhung & Partners sẽ phân tích theo từng bước để Quý khách hàng dễ theo dõi và áp dụng trong thực tiễn.
Khi nào đương sự được đề nghị Tòa án yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ?
Theo khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định đương sự có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ đang quản lý và lưu giữ. Sau khi nhận được yêu cầu của đương sự, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu.
Trường hợp đã thực hiện các biện pháp cần thiết nhưng vẫn không thể tự thu thập được vì tài liệu, chứng cứ đang do cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác quản lý, lưu giữ thì đương sự có quyền đề nghị Tòa án yêu cầu cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đó cung cấp tài liệu, chứng cứ .
Quy định này nhằm bảo đảm việc thu thập tài liệu, chứng cứ được thực hiện đầy đủ, khách quan và đúng quy định của pháp luật, đồng thời giúp Tòa án có đủ căn cứ để giải quyết vụ án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải cung cấp tài liệu, chứng cứ trong thời hạn bao lâu?
Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 , cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu .
Trường hợp đương sự trực tiếp yêu cầu , nếu không thể cung cấp thì cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người có yêu cầu.
Trường hợp Tòa án yêu cầu, nếu không thể cung cấp thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do cho Tòa án .
Tòa án xử lý như thế nào nếu cơ quan, tổ chức và các nhân không cung cấp chứng cứ?
Theo khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định rõ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; hết thời hạn này mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Nếu không có lý do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt như sau:
Bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;
Bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ căn cứ.
Đáng lưu ý, việc bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự không làm chấm dứt nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ. Cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân vẫn phải tiếp tục thực hiện yêu cầu của Tòa án.
Đương sự cần làm gì khi cơ quan, tổ chức không cung cấp tài liệu, chứng cứ?
Khi hết thời hạn luật định mà cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân không cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án và không có lý do chính đáng, đương sự nên chủ động thực hiện các quyền tố tụng của mình để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
Cụ thể, đương sự có thể:
Đề nghị Tòa án tiếp tục yêu cầu cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ thực hiện nghĩa vụ cung cấp theo Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đề nghị Tòa án xem xét, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với trường hợp không chấp hành yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ theo khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chủ động phối hợp với Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, kịp thời bổ sung tài liệu, chứng cứ khác (nếu có) để bảo đảm việc giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện và đúng quy định của pháp luật
Việc chủ động thực hiện các quyền này sẽ giúp hạn chế tình trạng vụ án bị kéo dài do thiếu tài liệu, chứng cứ.
Kết luận
Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không chỉ quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ mà còn là cơ sở pháp lý quan trọng giúp đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi gặp khó khăn trong việc thu thập chứng cứ.
Qua thực tiễn hành nghề, Nhung & Partners nhận thấy việc chủ động đề nghị Tòa án yêu cầu cung cấp tài liệu, theo dõi quá trình thực hiện và kịp thời đề nghị xử lý các trường hợp không chấp hành sẽ góp phần bảo đảm việc giải quyết vụ án được khách quan, đầy đủ và đúng quy định của pháp luật.
Nếu Quý khách gặp vướng mắc trong quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ hoặc cần hỗ trợ về thủ tục tố tụng dân sự, đội ngũ luật sư của Nhung & Partners luôn sẵn sàng đồng hành và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Quý khách.
Đừng ngần ngại liên hệ với chúng tôi để được tư vấn.
Nhung & Partners
Địa chỉ: 363 Nguyễn Trãi, Phường Cầu Ông Lãnh, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam
Hoặc Theo dõi Fanpage Nhung-Partners để cập nhật những thông tin pháp lý mới nhất
Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung bài viết của Nhung & Partners chỉ mang tính chất tham khảo kiến thức pháp luật chung, không thay thế cho giải pháp tư vấn pháp lý cụ thể cho từng vụ việc. Quý độc giả khuyến nghị liên hệ trực tiếp các cơ quan có thẩm quyền hoặc đơn vị tư vấn để được hỗ trợ cụ thể.